Đại lão doanh nhân có hơn chục người con ‘đại gia’: Dòng máu nhà tôi là dòng máu kinh doanh

Đại lão doanh nhân Đỗ Thế Sử là cha của ông Đỗ Minh Phú, Chủ tịch tập đoàn Doji, ông Đỗ Anh Tú TGĐ công ty CP Diana, ông Đỗ Quốc Bình Chủ tịch Hiệp hội taxi Hà Nội, ông Đỗ Anh Tuấn TGĐ công ty FTD, bà Đỗ Xuân Mai điều hành công ty Green Global, bà Đỗ Kim Dung là giám đốc Công ty sản xuất ống nhựa cho các Công ty sữa…
Cũng là một cơ duyên khi mà ít lâu sau, Nghị quyết 09 về phát triển đội ngũ DN doanh nhân được Bộ Chính trị ban hành - VCCI đã chọn trao tặng Kỷ niệm chương “Vì sự phát triển doanh nghiệp” cho đại lão doanh nhân Đỗ Thế Sử. Một cuộc trao tặng mang lại nhiều cảm xúc và suy nghĩ cho cả người trao, người nhận và những người chứng kiến.

Đại lão doanh nhân Đỗ Thế Sử

Trong lễ trao tặng kỷ niệm chương cho cụ Sử, có một lời phát biểu khiến tôi tâm đắc: “Chưa hết trăm năm đã trọn vẹn một chữ Người. Cuộc đời của cụ Sử là minh chứng cho từ Con Người viết hoa!” Ông Nguyễn Sanh Châu — Đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại Vương quốc Bỉ và Ủy ban châu Âu - dường như đã thay mặt cho tất cả những người được biết về cuộc đời của vị doanh nhân già này — nói lên điều ấy! Ở khoảnh khắc người đại lão doanh nhân giữa ngập tràn niềm vui sum vầy cùng con cháu đón nhận kỷ niệm chương, khi ông cất nên lời nói về niềm vui, niềm tự hào của mình mà không quên tự hứa rằng, còn sức lực sẽ còn kinh doanh, còn làm ngọn cờ đầu trong mái nhà doanh nhân của mình, tôi cảm thấy như được nghe lại giai điệu của ca khúc “một rừng cây, một đời người”. Cụ Sử đứng đó như đại ngàn che chở và tỏa bóng xuống cả một mái nhà doanh nhân. Một đời NGƯỜI

Sinh năm 1923 trong một gia đình địa chủ kháng chiến, theo cách mạng từ năm 24 tuổi — bao nhiêu thăng trầm đã trải, giờ đây nhìn lại “khối tài sản” mà cụ gây dựng: 11 người con là giáo sư, tiến sĩ, thầy thuốc nhân dân, doanh nhân, 34 cháu đều tốt nghiệp đại học (hầu hết đều học ở nước ngoài ) mới cảm nhận được gánh nặng trên vai người Cha — một mình chèo chống nuôi con. Tôi bắt đầu câu hỏi của mình bằng chính cái dấu ấn đặc biệt trong cuộc đời người doanh nhân lão thành này. Thưa cụ Sử - chắc phải có điều gì rất đặc biệt khiến cụ từ bỏ con đường quan chức đang mở rộng, để đi làm kinh doanh?

Khổng Tử có câu “ Tề gia — trị quốc — bình thiên hạ”. Người đàn ông trước hết phải lo được việc nhà 
38 tuổi đang là Tổng biên tập báo Sơn Tây, xin nghỉ để làm kinh doanh; 62 tuổi nghỉ hưu nhưng vẫn tổ chức sản xuất hàng may mặc sang Tiệp Khắc; 73 tuổi lập Công ty May mặc Gamexco điều hành đến nay 90 tuổi — và vẫn chưa có ý định dừng lại… Đó chỉ là đôi nét phác họa chân dung doanh nhân 90 tuổi Đỗ Thế Sử - người vừa được VCCI trao tặng Kỷ niệm chương “Vì sự phát triển doanh nghiệp”. mình rồi mới gánh vác được việc thiên hạ. Nhà tôi con đông vợ lại đau ốm liên miên. Tôi không còn lựa chọn nào tốt hơn. Sự nghiệp với đàn ông rất quan trọng, nhưng trước hết phải làm Người đã để lo cho vợ con tử tế. Đóng góp của mỗi người cho xã hội chính bằng sự lương thiện của mình của gia đình, con cháu mình. Mỗi người, có gia đình đều biết tu thân sửa mình thì xã hội chắc sẽ tốt đẹp hơn lên. Nếu tôi kinh doanh tốt thì có khi còn lợi ích cho mình và cả xã hội hơn là một anh quan chức bình bình.

Tôi xin về mở HTX nhỏ chuyên ngành xén giấy, đóng sổ sách và tổ chức cho cả đàn con vừa học vừa lao động phụ giúp mình. Tôi là người cha nghiêm khắc — yêu cầu rất cao ở con mình. Vừa phải lao động vừa phải học giỏi xuất sắc điểm A — không có B. Cả 9 người con của tôi đều học giỏi, thông minh, đặc biệt là anh Đỗ Minh Phú — Chủ tịch  kiêm TGĐ Tập đoàn Vàng bạc đá quý DoJi. Tối tối các con tôi mang bài ra học luôn có tôi ở bên cạnh chỉ bảo. Năm 1964, một biến cố lớn trong đời tôi xảy ra. Vợ tôi sau thời gian dài ốm nặng đã ra đi, để lại tôi và đàn con thơ dại — Đứa lớn nhất đang học lớp 10, đứa thứ chín mới vừa lên hai!

Tôi nhìn ông cụ không chớp mắt tự hỏi, không biết sức mạnh nào giúp người đàn ông vừa bốn mươi tuổi đã chịu cảnh “gà trống nuôi chín con thơ dại”,  vượt qua được thời bao cấp khốn khó ấy khi mà gạo đong sổ tính từng cân và phiếu vải tính từng mét cho cả năm? Là người mẹ tôi càng thấu hiểu sự lo lắng cháy lòng khi con ốm, con đau hay nghịch dại… Cuộc đời thử thách con người thật nghiệt ngã. Có những số phận đã buông xuôi trong nghịch cảnh. Nhưng vẫn còn những người can trường không chịu khuất phục, không chịu để cuộc đời xô ngã mà quyết đứng dậy bước nhanh về phía trước. Một trong những người như thế là cụ Sử! Điều gì đã giúp cụ đứng vững trong những ngày khó khăn ấy để làm tròn trách nhiệm “vừa làm cha vừa làm mẹ” thưa cụ ?

Tôi chỉ có ba điều để tựa vào, đó là trí tuệ, quyết tâm và đức hay lam hay làm. Tôi chịu khó học hỏi và tìm tòi sáng tạo trong công việc. Làm chủ nhiệm HTX Cơ khí Tháng Mười nhờ kiến thức tích lũy được hồi học đại học tại chức Bách khoa — chúng tôi đã sản xuất thành công gang dẻo tâm đen rất có uy tín. HTX lúc ấy có tới 200 đầu máy và 300 xã viên. Công việc kinh doanh đã giúp tôi nuôi được cả đàn con học hành đến nơi đến chốn. Quyết tâm tạo điều kiện cho các con học tập và một lòng vì chúng, tôi đã ở vậy nuôi các con 15 năm. Chỉ đến khi con nhỏ Đỗ Anh Tú được cử đi học tại Tiệp Khắc (cũ) tôi mới tục huyền với nhà tôi — Nguyễn Kim Phương và cùng bà điều hành doanh nghiệp đến bây giờ. Hồi tôi bị mổ dạ dày, nghi là ung thư, tôi tập trung các con lại dặn: “Bố tham gia cách mạng, làm gì cũng hết lòng nên không có gì ân hận. Cậu út còn nhỏ nhờ các anh trông giúp …” Cả nhà xúm vào khóc, tôi động viên “đời người ai cũng một lần chết. Cái chính là sống cho có ích…” Thế mà ông trời thương, không phải ung thư. Nhưng tôi vẫn phải chung sống với căn bệnh tim, sốt rét và chỉ còn 1/3 dạ dày. Ai cũng nói phải nghỉ ngơi nhưng tôi nghĩ còn sống thì còn làm việc. Ăn gạo của nông dân, mặc áo của công nhân thì phải làm trả ơn chứ. Thế là tôi lại kinh doanh…

Tôi hiểu sức mạnh tinh thần mà cụ nói — cảm phục đức làm người và ngưỡng mộ trí tuệ sắc sảo, vẻ mẫn tiệp vẫn toát ra từ gương mặt cương nghị và tinh anh của cụ. Chia sẻ với tôi bí quyết để khỏe — trẻ và minh mẫn — cụ bảo “ sự sáng suốt khỏe khoắn mà tôi có được là do học tập và làm việc không biết mệt mỏi. 70 tuổi tôi học tiếng Anh để làm việc với đối tác và mỗi chiều 30 Tết tụ họp gia đình hơn 70 người tôi có thể phát biểu bằng thứ tiếng của “Công dân toàn cầu”. 87 tuổi tôi tiếp tục học tiếng Hoa — cũng để trao đổi thường xuyên với đối tác và cũng do có cô con dâu út người Hoa…” Cụ Sử còn có ý định học tiếng Nhật dịp này… Dòng máu kinh doanh và chữ tín

Chủ tịch VCCI Vũ Tiến Lộc khi trao Kỷ niệm chương “Vì sự phát triển doanh nghiệp” cho cụ Đỗ Thế Sử đã phát biểu: “Cụ Sử là một bằng chứng rằng - 14 tuổi kinh doanh cũng chưa phải là sớm và 90 tuổi kinh doanh cũng chưa phải đã muộn…” Không phải ngẫu nhiên mà cụ Sử nhận mình có “máu kinh doanh” từ trong huyết quản. Cụ kể, 14 tuổi “chạy cờ” cho mẹ nên đã biết buôn tơ với các bà ở Hàng Ngang Hàng Đào và say mê kinh doanh từ thuở đó. Cụ tâm đắc: “Kinh tế là hạ tầng cơ sở của xã hội, là dòng máu nuôi cơ thể. Đất nước vững bền và phát triển thì phải có nền kinh tế khỏe mạnh và phát triển. Nhưng kinh doanh phải có gen và phải say mê nó. Tôi có gen ấy là được truyền từ mẹ tôi. Một người đàn bà thất học nhưng thông minh vô cùng. Bà chỉ nhìn qua bản đồ của xã, huyện là nắm được hết từng thửa ruộng. Không biết chữ nhưng bà tính nhẩm nhanh như cắt và không sai bao giờ”. Tôi hỏi cụ nhớ gì nhất về người mẹ và được nghe cả một câu chuyện thú vị vô cùng — ngỡ chỉ có trong tiểu thuyết.

- Mẹ tôi là con gia đình khá giả - Cha mẹ bà nhận trầu cau của một người trong xã. Bà không ưng người đó và trót yêu ông chánh tổng đã có vợ. Bà bỏ nhà trốn lên Phú Thọ cấy thuê làm mướn lo đủ số tiền mang về trả lễ cho nhà trai rồi nhất quyết lấy bố tôi. Phận làm lẽ cũng chẳng dựa gì nhiều vào chồng, bà tự tay gây dựng cơ đồ. Có chút vốn là bà mua ruộng, giao cho người cấy thuê và trả công xứng đáng, hai bên cùng có lợi. Cứ thế mà nhân lên mãi. Rồi bà mở xưởng thuê người nấu mật mía, mở lối gỗ từ Tuyên Quang, Phú Thọ, mở xưởng dệt nhuộm vải thâm… Có trong tay 300 mẫu ruộng, xưởng vải, xưởng mật, xưởng gỗ…, vậy mà vẫn tham công tiếc việc làm quần quật như một bà lực điền chính hiệu. Tôi nhớ mãi hình ảnh của bà vừa ăn ngô bung vừa tranh thủ xay lúa… Tôi còn biết bà có cái hòm hai đáy cao 1 thước, đáy dưới cao 40 phân chật cứng tiền Đông Duong. Bà làm giàu bằng cái đầu và tính hay lam hay làm, giúp cho bao người có công ăn việc làm. Cái giàu đĩnh đạc, đàng hoàng và chắc chắn. Cả đời tôi ngưỡng mộ và kính phục mẹ mình. Chính bà là tấm gương cho tôi theo và truyền cho tôi ý chí và nghị lực — nhất là những khi cuộc đời thử thách mình. Có vẻ như cụ còn giống mẹ ở chỗ nhìn đâu cũng thấy cơ hội kinh doanh?

Điều ấy thì đúng! Khi tôi đã nghỉ hưu ở HTX rồi, một ngày ông thông gia ở  Sài Gòn ra chơi kể chuyện mua cái mũ phớt đắt quá — hơn nửa chỉ vàng, tôi nghĩ ngay ở Hà Nội rẻ hơn. Thế là hai vợ chồng già “đánh” mũ từ Hà Nội vào. Sang Tiệp Khắc chơi với Anh Tú tìm đến tận kho mua hẳn 5000 cái về - thắng to. Đến cái năm Tú nhận bằng đỏ tiến sĩ được mời bố mẹ sang, chúng tôi ra quảng trường chơi thấy đồ pha lê đẹp quá liền mua luôn. Tối ấy ngắm nghía đến hai giờ sáng rồi quyết định “đánh về”. Tôi nhờ Tú dẫn đi mua băng giấy vệ sinh về chèn 39 kiện pha lê khiến Tú kêu trời! Bán pha lê cũng ra tiền mà băng giấy vệ sinh hồi ấy còn hiếm nên cũng là khoản thu kha khá… Nhiều tuổi rồi nhưng nhìn thấy cơ hội làm ăn vẫn ham. Không muốn dừng. 73 tuổi tôi quyết định thành lập công ty may mặc Gamexco để sản xuất hàng xuất khẩu. Công ty có 300 công nhân ở xưởng tại Hà Nội và ở Hà Nam, Ba vì. Nghe câu chuyện ngày nào của cụ Sử, tôi chợt có một liên tưởng thú vị. Phải chăng cũng do cái duyên giúp bố mẹ mà sau này Đỗ Anh Tú nổi tiếng với thương hiệu Diana! Quả thật dòng dõi gia đình họ Đỗ đặc biệt và không khác nào một huyền thoại!

Với triết lý sống và những kinh nghiệm đã trải của mình, cụ hướng những người con vào kinh doanh như thế nào? Tôi cho các con tự chọn con đường đi để phát huy hết khả năng của mình. Nhưng nhìn thấy ở người nào cái gen kinh doanh trội thì hướng người đó. Thực ra những điều đó ở trong máu rồi, chỉ cần khơi lên thôi: Đỗ Minh Phú là một ví dụ. Anh ấy là người thông minh nhất trong các con tôi. Ngày anh ấy phải lựa chọn giữa việc sang Nhật làm tiến sĩ hay chuyển hẳn sang kinh doanh tôi có nói đại ý: “Làm khoa học cũng tốt nhưng nếu biết cách làm giàu cho mình và đất nước thì càng tốt. Nhà DN sẽ là một trong những trụ cột của đất nước…” Thế là Phú quyết định rẽ sang hướng trở thành doanh nhân đúng nghĩa và có được Doji như hiện nay. Những người con khác của tôi cũng vậy: Anh Đỗ Anh Tú là Tổng giám đốc công ty CP Diana, anh Đỗ Quốc Bình Chủ tịch Hiệp hội taxi Hà Nội, anh Đỗ Anh Tuấn Tổng giám đốc công ty lò hơi FTD cung cấp sản phẩm cho cả nước, chị Đỗ Kim Dung là giám đốc Công ty sản xuất ống nhựa cho các Công ty sữa,  chị Đỗ Xuân Mai và chồng là điều hành công ty kinh doanh Green Global…

Tôi vẫn bảo, điều quan trọng không phải là các con làm được bao nhiêu tiền mà là các con tạo ra bao nhiêu việc làm cho công nhân. Phải trở thành người dẫn dắt mọi người theo như bà nội các con trước đây…, cụ Sử chia sẻ. Vậy trong kinh doanh, cụ trao truyền cho con cháu của mình điều gì?

Đó là chữ Tín. Ngày trước mẹ tôi đặt mua tơ về dệt ở Hàng Ngang Hàng Đào chỉ cần nhắn một câu là có hàng đưa về ngay, tiền trả sau. Bây giờ tôi và bạn hàng cũng vậy. Cuộn vải 150 m thì mét nào cũng như mét nào, 100 cuộn như một. Chưa cần ký hợp đồng chỉ cần gọi điện sang là họ thực hiện ngay. Không ai sống được một mình, người nọ phải dựa vào người kia để cùng tồn tại. Vậy thì chữ Tín quan trọng lắm. Tôi dạy con cháu chữ Tín và thể hiện chữ Tín với mọi người rồi để người ta giữ chữ Tín như mình. Dòng máu nhà tôi là dòng máu kinh doanh và dòng máu này được lọc bằng chữ tín. Bây giờ chữ tín còn ít lắm. Người ta lừa lọc nhau. Vì thế, các vụ vỡ nợ, lừa đảo nhan nhản khắp nơi nên càng phải đề cao chữ tín. Phải có chữ Tín thật sự thì chúng ta mới có nhiều các nhà tư bản lớn. Chữ Tín chính là biểu hiện nhân cách của người kinh doanh. Câu chuyện giữa tôi và cụ Sử cơ hồ thật khó dứt. Để hiểu một con người đặc biệt như cụ, để học hỏi thêm nhiều điều từ cụ thì một vài buổi chưa hẳn đã thấm tháp gì. Duy có điều này thì tôi biết rõ — nếu có lúc nào đó mình nản chí hoặc ngã lòng trước thử thách của cuộc sống thì cụ chính là một trong những người sẽ giúp tôi vượt lên bằng chính cuộc đời của cụ.

Cụ Phương vừa ở cơ sở sản xuất tại Ba Vì về tíu tít chuẩn bị bữa tối. Tôi nhìn xung quanh — hình như không có người giúp việc nào. Cụ bà 75 tuổi vẫn là người nấu những món ăn hợp khẩu vị cho cụ ông. Mà tôi biết cụ bà chính là cánh tay phải đắc lực trong kinh doanh của cụ ông. Sáng sáng hai cụ vẫn cùng nhau xuống xưởng sản xuất. Lại thêm một điều đặc biệt nữa trong ngôi nhà số 4 ngõ Bà Triệu này… Tiếp xúc với cụ Đỗ Thế Sử và những người con, người cháu doanh nhân của cụ, thêm một lần tôi hiểu rõ sức sống trường tồn len lỏi qua bao thăng trầm của lịch sử để tạo dựng nên những Kinh kỳ, Kẻ chợ, phố Hiến, Hội An, Sài Gòn, Chợ Lớn… và diện mạo của nền kinh tế hôm nay của đất nước. Đó chính là dòng máu kinh doanh, là nhiệt huyết, là nỗi đam mê trong mỗi con người và trao truyền lại cho những thế hệ sau; Là khao khát trở thành thủ lĩnh dẫn dắt những người xung quanh để xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn cho chính mình và mọi người - của những doanh nhân chân chính.

Chiều thứ bảy — chia tay cụ, tôi bước ra khỏi con ngõ có những chùm hoa vàng thả dọc lối đi, lòng trào lên niềm tin yêu cuộc sống và tin yêu con người hơn. “…Tôi được biết, cụ vốn xuất thân từ một gia đình có truyền thống yêu nước, sớm giác ngộ cách mạng. Khi đất nước còn dưới ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân, triết lý “Sống phải cố gắng đóng góp nhiều cho Tổ quốc và đồng bào” đã được cụ và gia đình đề cao. Vì thế, cụ đã tham gia cướp chính quyền, sau đó làm Chủ tịch xã, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh, nhà báo, rồi làm Tổng Biên tập báo của một tỉnh và nay là hoạt động doanh nghiệp…Dù ở cương vị nào, cụ cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Trong gia đình, cụ vừa là người cha – vừa là “người mẹ” mẫu mực, tần tảo nuôi dạy những người con khôn lớn, học hành thành đạt; có người đã trở thành giáo sư, tiến sỹ, nhà giáo nhân dân, có người là sỹ quân cấp cao trong quân đội, nhiều người con của cụ là những doanh nhân thành đạt. Con cháu cụ đều nêu gương truyền thống gia đình đã đóng góp tích cực cho sự nghiệp phát triển của đất nước. Nay, dù đã ở tuổi 90 nhưng cụ vẫn sáng suốt, minh mẫn để điều hành Công ty, hoạt động có hiệu quả, có nhiều đóng góp cho xã hội và tạo việc làm cho hàng trăm công nhân. Đó cũng là trường hợp hiếm có ở đất nước chúng ta. Cụ không những là niềm tự hào của con cháu, của dòng họ Đỗ mà còn là niềm tự hào của quê hương, của giới doanh nhân Việt Nam.
Người cao tuổi thường là kho báu về kinh nghiệm và kiến thức. Cụ hãy tiếp tục mở kho báu cho con cháu họ Đỗ và các doanh nhân Việt Nam đươc tiếp nhận những tài sản quý giá từ kho báu đó…”.

Trích thư của Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan gửi cụ Đỗ Thế Sử nhân dịp cụ được nhận Kỷ niệm chương “ Vì sự phát triển doanh nghiệp” “Câu chuyện về cuộc đời cụ Sử thật xúc động và thật tuyệt vời. Những đỉnh cao mà cụ đạt được khiến chúng ta phải ngưỡng mộ và noi theo.

- Đỉnh cao thứ nhất là về tinh thần DN: Đất nước ta có hùng mạnh hay không chắc chắn phụ thuộc vào tinh thần DN của dân tộc ta, phụ thuộc vào từng người mà cụ Sử là một tấm gương.

- Đỉnh cao thứ hai là giá trị của gia đình: Trong khó khắn trắc trở của cuộc đời, cụ vẫn giữ được cái đạo của người quân tử, chăm lo cho gia đình và nuôi dưỡng những người con thành tài. Điều này thật không dễ dàng cụ là một tấm gương sáng không chỉ trong gia đình mình mà cho cả doanh nhân và mọi gia đình Việt Nam.

- Cuối cùng là đỉnh cao về học tập - cá nhân tôi ngưỡng mộ nhất tấm gương học hỏi không biết mệt mỏi của cụ Sử” Trương Gia Bình - Chủ tịch Tập đoàn FPT
http://www.baomoi.com/Home/KinhTe/dddn.com.vn/Dai-lao-doanh-nhan-co-hon-chuc-nguoi-con-dai-gia-Dong-mau-nha-toi-la-dong-mau-kinh-doanh/8327262.epi
0 notes

Hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam

Thong_tu_134-2008-_BTC__Thue_nha_thau_.pdf Download this file

0 notes

Cách đầu tư khôn ngoan nhất

Không phải lúc nào cũng dễ dàng khám phá tiềm năng vĩ đại của nhân viên của mình, trong khi chi phí cho việc nghiên cứu và phát triển không bao giờ rẻ. Một trong những cách tốt nhất để đầu tư vào con người là trao cho họ cơ hội để vươn tới đỉnh điểm khả năng họ có thể.

Căng thẳng và háo hức mong đợi, tôi đi lên khu C gặp người quản lý cao cấp của Merrill Lynch. Lần gặp 2 năm trước, ông có vẻ ủng hộ sự nghiệp của tôi theo đuổi, như một nhà phân tích cho bên bán. Và giờ khi tôi đã là nhà đầu tư của một doanh nghiệp quốc tế hàng đầu,  tôi quyết định tìm gặp ông và chia sẻ với ông giấc mơ đạt đến vị trị quản lý cấp cao trong tương lai. Tôi hi vọng ông có thể tài trợ cho tôi trong kế hoạch năm đến mười năm đó.

Cuộc trò chuyện không đưa lại kết quả tốt đẹp. Ông ấy từ chối với thông điệp khá rõ ràng: ý định vươn lên vị trí quản lý cấp cao của tôi có thể thực hiện ở nơi khác, tuyệt đối không phải ở Merrill. Có nhiều lý do tại sao vị quản lý này lại trả lời như vậy, nhưng một thực tế không thay đổi là tôi đã bước vào văn phòng của ông đầy tự tin thì lại đi ra với một giấc mơ bẹp dí. Cũng giống như Mike Tyson từng nói: “tất cả mọi người đều có kế hoạch cho đến khi họ bị hạ nốc ao.”

Trong cuốn “The Epic of America”, nhà sử học James Truslow Adam đã đặt ra thuật ngữ “Giấc mơ Mỹ” để miêu tả một “trật tự xã hội mà trong đó mỗi người sẽ đạt đến mức tối đa mà khả năng bẩm sinh của họ có.” Với nhiều người, cả những người đang làm việc hay thất nghiệp, những thăng trầm của nền kinh tế hiện nay đều đã dập tắt niềm tin của họ vào giấc mơ Mỹ ấy. Sự bị quan đã thấm nhuần vào văn hóa Mỹ này cần được thay đổi. Với vai trò là những nhà lãnh đạo kinh doanh, làm cách nào chúng ta có thể gìn giữ được nét đặc biệt của giấc mơ Mỹ ấy? Cụ thể hơn, làm thế nào chúng ta có thể giúp được người lao động theo đuổi giấc mơ của họ?

Dưới đây là 2 gợi ý để nhân viên của bạn sẽ không phải bước ra khỏi văn phòng của bạn như những kẻ thua trận quyền Anh.

Hãy tôn vinh những khát vọng

Từ kinh nghiệm Merrill của chính tôi - người quản lý cấp cao đã không nhìn nhận tôi có khả năng làm được những gì tôi nghĩ mình có thể. Có thể ông ấy đúng, cũng có thể không. Nhưng theo diễn giải của Chris Brogan, “mặc dù khách hàng không phải lúc nào cũng đúng, khách hàng vẫn cần được lắng nghe.” Điều này cũng đúng cho nhân viên của bạn.

 

Khuyến khích ý muốn thực hiện điều gì đó là điều rất cần thiết để giúp nhân viên của bạn làm việc chăm chỉ, vui vẻ và hiệu quả, đặc biệt khi họ giành được quyền đặt mục tiêu cao hơn. Và bất kể tham vọng của họ là khả thi hay không, khi một nhân viên chia sẻ  với bạn mục tiêu nghề nghiệp hay một ý tưởng sáng tạo, tham vọng đó cần được tôn trọng. Bởi, như người nào đó từng nói, “nguyện vọng của chúng ta chính là khả năng của chúng ta.”

Hãy cân nhắc nhiều cho câu trả lời “có”

Nhiều nhà quản lý bám vào từ “không” cứ như thể mọi câu trả lời “có” dành cho nhân viên của mình đồng nghĩa với điều gì đó tiêu cực với công ty. Quan điểm kiểu “Được ăn cả, ngã về không” xem kích thước của miếng bánh “lợi nhuận” là cố định, chia càng nhỏ thì phần của bạn càng nhỏ đi. Khi bạn xem xét  đến câu trả lời “có”, một nhân viên muốn làm nhiều hơn sẽ trở thành một tác nhân giúp chiếc bánh đó phình to ra, làm tăng thêm giá trị. Và chúng ta không nhất thiết phải nghĩ đến việc làm thế nào để nướng chiếc bánh to hơn như thế.

Sao bạn không hỏi chính người đang tìm kiếm khả năng phát triển đó đưa ra một kế hoạch, khi mà nó có lợi cho tất cả những bên liên quan - nhân viên đó, người quản lý trực tiếp, và cho cả công ty? Cách tiếp cận này không chỉ đáp ứng cho chính bạn, mà còn trao cho nhân viên của bạn cơ hội suy nghĩ một cách chiến lược và để chứng minh rằng anh ta là một cầu thủ trong đội, có thể cống hiến giá trị của họ cho cả công ty.

Ngay cả khi chúng ta dễ trả lời là “có”, nhưng đôi khi nhìn nhận nhân viên trong vai trò họ tự hình dung cho bản thân khá khó khăn. Nếu không gặp khó khăn như vậy thì chắc chúng ta đã ủng hộ họ từ trước rồi. Trong trường hợp này, hãy xem xét mô hình mà tôi gọi là American Idol.

Trong American Idol, cuộc thi với sự xuất hiện của thí sinh trước công chúng có thể sẽ khiến người ta bị vẻ ngoài và sự thể hiện của thí sinh làm cho không đánh giá đúng giọng hát hay nhất. Để chính xác, các buổi thử giọng đầu tiên trên đài phát thanh khiến thí sinh chỉ có thể vượt qua bằng chính chất giọng của họ. Nếu khả năng đột phá của nhân viên của bạn không thể hiện rõ ràng từ đầu, hãy tách các kĩ năng của họ ra riêng rẽ cho đến khi bạn tìm ra kĩ năng đột phá của họ. Chúng tôi luôn mong mỏi cho câu trả lời “có” ấy.

Sau khi khảo sát 80.000 nhà quản lý trong một cuộc thăm giò Gallup, Marcus Bucking đưa ra kết luận: “Các nhà lãnh đạo vĩ đại khám phá ra những điểm độc đáo duy nhất của mỗi người và tận dụng nó.” Điều này sẽ tạo ra một vòng phản hồi tích cực. Những nhân viên giá trị sẽ tham gia tích cực hơn giúp đổi mới và thúc đẩy công ty phát triển.

Với tôi, không phải lúc nào cũng dễ dàng khám phá tiềm năng vĩ đại của nhân viên của mình, trong khi chi phí cho việc nghiên cứu và phát triển không bao giờ rẻ. Một trong những cách tốt nhất để đầu tư vào con người là trao cho họ cơ hội để vươn tới đỉnh điểm khả năng họ có thể. Đây chính là sự khác biệt giữa những nhà lãnh đạo và những nhà quản lý.

http://vef.vn/2011-05-30-cach-dau-tu-khon-ngoan-nhat-

phải làm thế nào để doanh nghiệp, xã hội phát triển.

Chủ tịch FPT: ‘Tới Davos để học những doanh nghiệp đỉnh cao’

 

Trở về từ Diễn đàn Kinh tế thế giới tại Davos (Thụy Sĩ) với tư cách thành viên sáng lập, Chủ tịch FPT Trương Gia Bình chia sẻ những tư tưởng mới mẻ về kinh doanh và trách nhiệm xã hội của doanh nhân.

> FPT hợp tác với Intel và SK Planet

> Lợi nhuận hợp nhất 2011 của FPT đạt 2.515 tỷ 

> FPT góp 85 tỷ đồng lập công ty bán lẻ

 

- Trở về từ Thụy Sĩ, ấn tượng sâu sắc nhất của ông về diễn đàn kinh tế lớn nhất thế giới là gì?

 

- Trên thực tế thì WEF là nơi hội tụ nhiều chính trị gia, lãnh đạo các tổ chức, doanh nghiệp lớn của thế giới. Không chỉ bàn bạc về kinh doanh, tại Davos, người ta dành nhiều thời gian để trao đổi xung quanh các vấn đề xã hội, lao động - việc làm, giáo dục hay nông nghiệp… Tôi rất ấn tượng với những phát minh, ý tưởng mới được các đại biểu khắp thế giới mang đến. Từ ý tưởng chế tạo những chiếc máy kê đơn thuốc phục vụ cho riêng mỗi cá nhân đến những tư tưởng mới mẻ của các doanh nhân xã hội (social entrepreneur) - những người mà tôi rất bất ngờ khi được gặp tại đây.

 

 

Ông Trương Gia Bình (phải) và Chủ tịch KPMG - Michael Andrew tại Diễn đàn Kinh tế thế giới. Ảnh: PV

Tôi rất ngạc nhiên khi hỏi một doanh nhân Ấn Độ xem anh ta làm gì và nhận được câu trả lời là “làm cho thế giới tốt đẹp hơn”. Tôi hỏi tiếp xem anh ta làm thế nào thì được biết anh kết nối những người nghèo với cơ hội phát triển bằng cách mở trường dạy nghề với học phí thấp, bằng một phần năm mức thông thường, cho hàng trăm nghìn người nghèo Ấn Độ.

 

Tìm hiểu kỹ hơn, tôi được biết anh ta đại diện cho nhóm doanh nhân mới tại Davos, những người chấp nhận kinh doanh với lợi nhuận thấp (chỉ khoảng 8% so với mức 25% thông thường) để đóng góp cho xã hội, mang lại lợi ích cho nhiều người. Tôi cho rằng đây là một tinh thần doanh nhân rất mới mẻ, hiện đại, đúng với cam kết của WEF là thay đổi thế giới theo hướng tốt đẹp hơn.

 

- Những tư tưởng mới mẻ này được thể hiện như thế nào tại diễn đàn?

 

- Theo tôi cảm nhận cũng như phát biểu tại diễn đàn thì quá trình này bắt đầu từ chính tinh thần doanh nhân (entrepreneurship). Tôi nghĩ trong xã hội cần ít nhất 3% những người có tinh thần như thế này, họ luôn phải nung nấu suy nghĩ phải làm thế nào để doanh nghiệp, xã hội phát triển.

 

Tôi cũng tiếp xúc với một doanh nghiệp lớn khác của Ấn Độ, dù đã rất thành công trong những lĩnh vực khác nhưng giờ đây chỉ chuyên tâm phát triển giáo dục. Họ đào tạo cho khoảng 500.000 người mỗi năm. Sau 20 năm thành lập, đã có 35 triệu người được họ đào tạo. Những mô hình như vậy, nếu được nhân rộng sẽ rất có ích cho những quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam.

 

- Một vấn đề khác cũng được bàn thảo sôi nổi tại Davos là cuộc khủng hoảng nợ và kinh tế châu Âu. Ông nhìn nhận câu chuyện này như thế nào?

 

- Những gì được bàn thảo tại WEF cho thấy kinh tế thế giới sẽ tiếp tục trải qua nhiều khó khăn trong năm 2012, mà tâm điểm vẫn là châu Âu. Vấn đề này được bàn thảo nhiều nhất và cũng ghi nhận nhiều quan điểm trái chiều. Phía Âu - Mỹ kiên quyết bảo vệ khu vực này bằng cách sử dụng các biện pháp tài chính toàn cầu, nhờ cứu trợ từ IMF hay ECB. Tuy nhiên, quá trình này chắc chắn sẽ tốn kém, trong khi các đại diện châu Á và các nền kinh tế mới nổi lại đòi hỏi sự công bằng.

 

Đại diện của các nền kinh tế như Nhật, Hong Kong (Trung Quốc) đặt câu hỏi tại sao lại phải bỏ tiền cứu Eurozone. Họ dẫn chứng Trung Quốc tăng trưởng 60% trong 5 năm qua, mức tăng trung bình của châu Á cũng đạt đến 40%. Trong khi châu Âu không hề tăng trưởng. Tại Tây Ban Nha, 50% thanh niên dưới 25 tuổi không có việc làm.

 

Nhìn chung thì WEF đã phần nào thể hiện mâu thuẫn Á - Âu, giàu - nghèo và chưa có một giải pháp cụ thể nào được thống nhất. Cá nhân tôi tin rằng với cam kết của những nước có thực lực tại Âu - Mỹ thì đồng euro sẽ khó tan rã. Tuy nhiên, những gì được nói ở hội thảo đã chứng minh đây là một vấn đề trầm trọng và để giải quyết, cần một quá trình lâu dài và đau đớn.

 

- Trong bối cảnh kinh tế thế giới như vậy, cơ hội đối với châu Á, Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp, đã được nhìn nhận như thế nào tại Davos?

 

 

Chủ tịch FPT cho rằng khủng hoảng đang mang lại cho châu Á và Việt Nam nhiều cơ hội phát triển. Ảnh: Nhật Minh

- Trong bối cảnh châu Âu trì trệ, châu Mỹ còn nhiều khó khăn thì rõ ràng cả thế giới đang nhìn về châu Á, trong đó có Việt Nam. Tôi có tiếp xúc với nhiều tập đoàn lớn tại Davos thì thấy rằng Việt Nam luôn nằm trong chính sách Trung Quốc hoặc Ấn Độ “cộng một”. Chúng ta có dân số trẻ, thị trường lớn, lao động thông minh và ở góc độ nào đó là “máu kinh doanh” - đây là điều mà nhiều nước khác nằm mơ cũng không thấy được. Đó là lợi thế.

 

Nhưng thách thức cũng không phải không có, nhất là sự trỗi dậy của các nền kinh tế đang lên khác trong khu vực như Indonesia hay Myanmar. Đặc biệt là Myanmar. Tại các diễn đàn, tôi thấy mắt ai cũng sáng lên khi nhắc đến tên quốc gia này.

 

Thứ hai và quan trọng hơn là lạm phát. Nhà đầu tư quốc tế rất quan ngại về lạm phát tại Việt Nam. Tôi có gặp một đối tác lớn và thuyết phục ông ấy vào đầu tư thì gặp nhiều e ngại từ ông ấy về tình hình lạm phát tại Việt Nam. Tuy vậy, khi tôi chia sẻ thông tin Chính phủ Việt Nam quyết đưa lạm phát về một con số trong năm 2012 thì nhà đầu tư này hứa sẽ tới Việt Nam vào tháng 4 tới để xem xét khả năng hợp tác.

http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/2012/02/chu-tich-fpt-toi-davos-de-hoc-nhung-doanh-nghiep-dinh-cao/

Cao tăng nói về lợi nhuận và người kinh doanh

Doanh nhân cần tin tưởng vào quy luật “nhân quả”. Giáo lý nhân quả – nghiệp báo của nhà Phật đã chỉ ra, hãy đem điều thiện, đem lại an vui, hạnh phúc cho đời. Điều ác sẽ gieo rắc khổ đau cho mình.Thượng tọa Thích Thanh Quyết
Lợi nhuận có liên hệ mật thiết đến đạo đức, môi sinh, an ninh, văn hóa, xã hội. Khó khăn hay thuận lợi tại nơi này, của người này sẽ ảnh hưởng đến các nơi khác, người khác và công việc kinh doanh của DN. Nhân dịp xuân Nhâm Thìn, DĐDN có buổi mạn đàm với Thượng tọa Thích Thanh Quyết về vấn đề lợi nhuận của người kinh doanh.
Thượng tọa Thích Thanh Quyết giảng giải rằng, người kinh doanh tốt sẽ biết điều hòa mối quan hệ giữa con người với con người, con người với vũ trụ. Lợi nhuận của DN liên hệ chặt chẽ với thái độ hành xử của chủ DN và các thành viên trong DN. - Theo giáo lý nhà Phật phải điều hòa vấn đề lợi nhuận kinh doanh của doanh nhân, DN ra sao, thưa Thượng tọa?

Giáo lý Phật giáo mong cho mọi người được an lạc, hạnh phúc, mong cho mọi người không có ai dối gạt ai, không có ai gây tổn hại ai, mong cho mọi người che chở, bảo vệ nhau. Toàn bộ giáo lý nhà Phật đều nhằm mục tiêu diệt khổ, hay nhằm vào mục tiêu mang hạnh phúc đến với mọi người. Doanh nhân cũng là một con người, một công dân, vì thế hoạt động kinh doanh không chỉ vì cạnh tranh và lợi nhuận, mà còn vì đất nước, dân tộc, và rộng hơn đến toàn xã hội. Hoạt động kinh doanh và mục tiêu kinh doanh của doanh nhân cần phát triển song hành, nhịp nhàng giữa mục tiêu của bản thân, gia đình với toàn xã hội.

Để có lợi nhuận cao và có điều kiện phát triển mạnh DN, ngoài tính năng động, chuyên môn giỏi… (năng lực kinh doanh), nhà DN cần có thái độ chia sẻ với cán bộ, nhân viên. Từ chia sẻ lợi nhuận đến tinh thần, xử sự thân tình với nhân viên như các thành viên của một gia đình thì chắc chắn nhân viên sẽ dốc lòng làm việc giúp DN phát triển. Với khách hàng, người kinh doanh bắt nguồn từ ý niệm đem lại lợi ích, đem lại sự phục vụ, sản phẩm tốt cho người khác thì sẽ phát triển lâu bền. Ngược lại, nếu kiếm lời bằng sự lừa dối khách hàng, bằng sự hủy hoại môi trường, hay bằng sự bóc lột lao động thì khó có DN nào thành công.

Với doanh nhân, DN cùng lĩnh vực kinh doanh mà cạnh tranh theo hướng kích thích nhau vươn lên sẽ tốt hơn là triệt hạ. Doanh nhân cần tin tưởng vào quy luật “nhân quả”. Giáo lý nhân quả – nghiệp báo của nhà Phật đã chỉ ra, hãy đem điều thiện, đem lại an vui, hạnh phúc cho mình và người. Điều ác (hay phi đạo đức) sẽ gieo rắc khổ đau cho mình và người. - Gần đây, mọi người đều nói rất nhiều tới văn hóa trong kinh doanh. Thượng tọa có nhận xét thế nào đối với vấn đề này ?

Văn hóa nói chung, văn hóa kinh doanh nói riêng là cả một quá trình nhào nặn, chắt lọc để lựa chọn những tinh túy. Xã hội VN đã trải qua hàng ngàn năm phát triển văn hóa. Tuy nhiên, trong kinh doanh, cơ chế mở cửa mới vào VN được hơn hai chục năm nay. Từ một cơ chế bó buộc, người kinh doanh như được cởi trói trong một môi trường rất thoải mái, cởi mở để thỏa sức thể hiện tài năng và ý chí làm giàu, làm giàu cho bản thân và cho xã hội. Tuy nhiên, sự mới mẻ này đôi khi rất dễ khiến người kinh doanh lạc vào guồng quay của cơ chế thị trường. Và khi đã bị cái guồng quay đó cuốn đi, chắc sẽ có người quên đi hoặc bỏ qua một số tiêu chuẩn phát triển của xã hội. Đây là những tiêu chuẩn về sự tôn trọng đối tác, khách hàng, những nét văn hóa cộng đồng cùng phát triển… và cao hơn nữa là sự tôn nghiêm của pháp luật. Với những người như vậy, cần sớm tĩnh tâm, nhìn nhận lại mình. Giáo lý nhà Phật luôn đưa ra những quan niệm, tư tưởng khiến mọi người được cân bằng.

Tìm lại sự đồng điệu trong hoạt động kinh doanh cũng chính là tìm lại những giá trị cốt lõi trong văn hóa kinh doanh. Mặc dù, ở nhiều nơi, với nhiều người, văn hóa kinh doanh chỉ là vấn đề vừa được đặt ra nhưng cũng đã rất đáng quý. Nếu người nào đó chưa làm được, chưa thực hiện tốt văn hóa kinh doanh thì đó cũng là mục tiêu mà họ đang hướng tới. Bởi văn hóa kinh doanh xuất phát từ những giá trị đạo đức được hun đúc từ hàng ngàn năm của người dân VN. - Phát triển kinh doanh cũng như phát triển kinh tế - xã hội thì mục tiêu cuối cùng là đem lại ấm no hạnh phúc cho mọi người. Thông qua giáo lý nhà Phật, Thượng tọa nhận xét thế nào về quan niệm này trong xã hội VN, hiện nay ?

Hạnh phúc là sự phát triển hoàn toàn đầy đủ các đức tính của con người. Mỗi cá nhân là một sự phối hợp của các ước muốn, các tình cảm, ý nghĩ và hành động. Nếu các yếu tố ấy được điều hòa thì cá nhân sẽ tồn tại và thành công. Hạnh phúc là mục đích của mọi hành động, là sự có mặt của các cảm giác thoải mái, và sự vắng mặt của khổ đau. Hầu hết mọi người dân ở lứa tuổi trưởng thành vừa trải qua sự thiếu thốn vật chất của thời kỳ bao cấp kéo dài. Chính vì vậy, nhu cầu về hưởng thụ vật chất nảy sinh trong mỗi con người đều rất lớn. Không ít người đã chạy theo nó như những quan niệm vô thức.

Giáo lý nhà Phật cho rằng, mọi người đều phải hiểu và nhận thức tốt về khái niệm “tri túc” có nghĩa là biết đủ. Không ai có thể ăn một ngày đến 4 - 5 bữa được. Nhu cầu về vật chất cứ lớn mãi thì người đó sẽ không bao giờ thanh thản. Cho dù, nhiều người có được đầy đủ tiền tài, danh vọng nhưng cuối cùng vẫn thấy khổ cực, vẫn thấy không được hạnh phúc vì mình chưa đạt được như mong muốn. Có người thì bị chính vật chất đó làm khổ. Với doanh nhân, doanh nghiệp cùng lĩnh vực kinh doanh mà cạnh tranh theo hướng kích thích nhau vươn lên sẽ tốt hơn là triệt hạ. Doanh nhân cần tin tưởng vào quy luật “nhân quả”.

Giáo lý nhân quả và nghiệp báo xác định rõ trách nhiệm của cá nhân về mọi hành động của mình dẫn đến khổ đau hay hạnh phúc. Nhiều người, đặc biệt là giới doanh nhân đã nhận thực được những tiêu chí của hạnh phúc. Mang lại sự ấm no, hạnh phúc cho người khác thì bản thận mình cũng cảm nhận được sự hạnh phúc. Đây chính là một nét văn hóa của người Việt đã có từ hàng ngàn năm nay. Từ câu chuyện Lạc Long Quân và Âu Cơ mở đầu lịch sử và văn hóa VN xem mối liên hệ tình cảm giữa các công dân của đất nước như là tình anh em một nhà, cùng chung bào thai mẹ, gọi là “tình đồng bào” đến mục tiêu phổ độ chúng sinh của nhà Phật đều là những tiêu chuẩn văn hóa mẫu mực của con dân Việt.
- Phải chăng chính những quan niệm tư tưởng văn hóa truyền thống trên đang khuyến khích, thôi thúc doanh nhân VN hướng tới cộng đồng, làm từ thiện giúp đồng bào, thưa Thượng tọa ?Tư tưởng làm từ thiện, bố thí đang phát triển rất mạnh mẽ trong giới doanh nhân hiện nay. Nhiều doanh nhân kể cả thành đạt và chưa thành đạt đều lấy việc làm từ thiện, bố thí là nguồn vui làm điều phấn đấu. Họ làm từ thiện, bố thí không vì mục đích để được ca ngợi, được biết ơn mà vì chia sẻ cho những người có hoàn cảnh khó khăn được bớt phần khổ cực.

Điều này hoàn toàn phù hợp với giáo lý nhà Phật. Bố thí là một trong sáu tiêu chuẩn của người tu hành đắc đạo, trong giáo lý nhà Phật. Theo đó, người đi bố thí không phải là người đi cho, người đi ban ơn mà là người kính dâng, kính tặng, kính biếu. Mong muốn của người bố thí là được giúp đỡ, chia sẽ những người thiếu may mắn hơn mình, khó khăn hơn mình. Còn người được nhận bố thí phải có tấm lòng biết ơn, có thể là biết ơn người giúp đỡ và biết ơn đức Phật. Phật giáo đứng vai trò trọng tài phân chia phúc đức đến mọi người, mọi nhà. Qua đó, cả người bố thí và người nhận bố thí đều cảm thấy chỗ dựa nơi cửa Phật.

Trong cuộc sống, không ai và không ở đâu giống nhau, bao giờ cũng có người giàu, người nghèo, có nơi này nơi kia gặp khó khăn. Tư tưởng Phật giáo cũng như văn hóa dân tộc đã hòa quyện vào nhau trong con người VN từ hàng ngàn năm nay. Đó là tư tưởng luôn vươn lên nhưng cũng luôn chia sẻ để mọi người mọi nhà cùng được ấm no, hạnh phúc, từ no đủ vật chất, đến ấm áp về tinh thần. - Thượng tọa có điều gì nhắn gửi tới doanh nhân VN trong năm 2012 ?

Một năm mới đã đến! Nếu nói tới phát triển kinh tế thì chắc các doanh nhân có thể còn gặp nhiều khó khăn. Nhưng với tinh thần đùm bọc “đồng bào” cùng giúp nhau phát triển thì doanh nhân có thể vượt qua được khó khăn không chỉ về kinh tế mà còn cảm thấy ấm áp từ sự chia sẻ trong cộng đồng con dân Việt. - Xin trân trọng cảm ơn Thượng tọa !

Theo Bá TúDiễn đàn doanh nghiệp

http://biz.cafef.vn/20120201101053862CA57/cao-tang-noi-ve-loi-nhuan-va-nguoi-kinh-doanh.chn
0 notes

Một số vấn đề pháp lý về hợp nhất các Ngân hàng thương mại cổ phần


Sáp nhập Ngân hàng

Thời gian vừa qua, cùng với quá trình xây dựng đề án tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, Ngân hàng Nhà nước đang hoàn chỉnh Đề án tái cơ cấu lại  hệ thống các tổ chức tín dụng. Ngày 06 tháng 12 năm 2011, Ngân hàng Nhà nước chính thức công bố vụ hợp nhất tự nguyện đầu tiên giữa ba ngân hàng thương mại cổ phần (Sài Gòn, Việt Nam Tín nghĩa và Đệ Nhất) thành một ngân hàng thương mại cổ phần mới (NHTMCP).

Sự kiện hợp nhất 03 NHTMCP này là một trong những hành động cụ thể thực hiện đề án tái cơ cấu hệ thống các TCTD và chủ trương giảm nhanh số lượng các ngân hàng yếu kém, lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền. Việc hợp nhất các NHTMCP là quá trình phức tạp, liên quan đến lợi ích của nhiều bên và phát sinh nhiều vấn đề pháp lý cần xử lý. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin đề cập một số vấn đề pháp lý cần quan tâm, xử lý trong quá trình thực hiện hợp nhất các NHTMCP.

1. Bản chất pháp lý của việc hợp nhất các NHTMCP

Theo quy định tại Thông tư 04/2010/TT-NHNN ngày 11/02/2010 của Ngân hàng Nhà nước (Thông tư 04), “hợp nhất tổ chức tín dụng” được hiểu là hình thức hai hoặc nhiều tổ chức tín dụng hợp nhất thành một tổ chức tín dụng mới bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang tổ chức tín dụng mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các tổ chức tín dụng bị hợp nhất. Như vậy, về bản chất pháp lý, hợp nhất các NHTMCP là việc hai hoặc nhiều NHTMCP hợp nhất với nhau thành một NHTMCP mới. Hệ quả pháp lý của hoạt động hợp nhất các NHTMCP là việc chấm dứt pháp nhân đối với các NHTMCP bị hợp nhất, đồng thời khai sinh một pháp nhân NHTMCP mới. Về mặt pháp lý, NHTMCP mới sẽ kế thừa toàn bộ quyền và 

nghĩa vụ pháp lý của các NHTMCP bị hợp nhất, cụ thể bao gồm: (i) Quyền chủ nợ của các NHTMCP bị hợp nhất đối với các khoản cấp tín dụng, khoản đầu tư vào trái phiếu, chứng khoán nợ khác được chuyển sang cho NHTMCP mới; (ii) Quyền cổ đông, thành viên góp vốn, chủ sở hữu của các NHTMCP bị hợp nhất đối với các khoản góp vốn, mua cổ phần được chuyển sang NHTMCP mới; (iii) Quyền sở hữu đối với các tài sản của NHTMCP bị hợp nhất (như trụ sở, bất động sản, tài sản khác…) được chuyển sang NHTMCP mới; (iv) Các nghĩa vụ nợ đối với khoản vay, tiền gửi dưới mọi hình thức… của các NHTMCP bị hợp nhất cũng được chuyển sang NHTMCP mới. Hay nói cách khác, quyền của người gửi tiền tại các NHTMCP bị hợp nhất được bảo đảm. Việc bảo vệ quyền lợi của khách hàng, đặc biệt là người gửi tiền đã  được pháp luật quy 
định thuộc trách nhiệm của các NHTMCP liên quan; (v) Các quyền và nghĩa vụ khác theo hợp đồng/thỏa thuận của các NHTM bị hợp nhất được chuyển giao sang NHTMCP mới.

2. Một số vấn đề pháp lý cần xử lý khi thực hiện hợp nhất các HTMCP

Quá trình thực hiện việc hợp nhất các NHTMCP có một số vấn đề pháp lý cần xử lý như sau: 

Thứ nhất, về quyền và nghĩa vụ của cổ đông của các NHTMCP bị hợp nhất. Về mặt pháp lý, việc hợp nhất các NHTMCP chính là việc các cổ đông của NHTMCP bị hợp nhất góp vốn vào NHTMCP mới bằng tài sản là vốn cổ phần của cổ đông tại các NHTMCP bị hợp nhất. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, tài sản góp vốn không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được định giá.

Trong trường hợp hợp nhất  các NHTMCP, việc định giá tài sản góp vốn là căn cứ pháp lý để xác định tỷ lệ chuyển đổi cổ phần của cổ đông tại các NHTMCP bị hợp nhất sang cổ phần của NHTMCP mới và là căn cứ xác định mức vốn điều lệ của NHTMCP mới. Việc định giá tài sản góp vốn trong trường hợp hợp nhất các NHTMCP được thực hiện thông qua kiểm toán độc lập báo cáo tài chính của các NHTMCP bị hợp nhất. Ngoài ra, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông của NHTMCP mới, sự lành mạnh về tài chính của NHTMCP mới, việc định giá tài sản của các NHTMCP bị hợp nhất phải được thực hiện đồng thời với việc xử lý các khoản nợ xấu của các NHTMCP để xác định chính xác giá trị tài sản còn lại của cổ đông tại NHTMCP bị hợp nhất.

SOURCE: TẠP CHÍ NGÂN HÀNG SỐ 24/2011

 Xem bài viết đầy đủ ở đây

0 notes

Chương 5: Hôn nhân và hạnh phúc

Gingti Chùa Sơn, Boston, Hoa Kỳ, ngày 07-07-2007

Đánh máy: Minh Cường

 Con số 7 và hôn nhân

Phần lớn các dân tộc trên thế giới kỵ ngày 06 tháng 06 năm 2006 vì nghĩ rằng đó là ngày bất hạnh. Gốc rễ của nền văn hóa phương Tây, cụ thể là Thiên Chúa giáo thường né tránh con số 6 khi đăng lý số nhà, số xe hay số điện thoại… Trong khi đó, số 6 trong nhà Phật tượng trưng cho hành động trọn vẹn và gắn liền với sáu pháp môn toàn hảo giúp hành giả đến được bến bờ an vui giải thoát, đó là sáu Ba La Mật gồm bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ.

Riêng thứ bảy ngày 07 tháng 07 năm 2007 được thế giới quan niệm là ngày may mắn đặc biệt trong hôn nhân. Cứ mỗi 100 năm chỉ có một ngày 07 tháng 07. Bản chất của con số 7 đuợc phần lớn các nền văn hóa quan niệm tượng trưng cho sự may mắn. Theo thống kê của công ty môi giới hôn nhân, theknot.com, Hoa Kỳ có đến 65,000 cặp trai gái đăng ký đính hôn trong ngày này.

Nền văn hóa phong thủy của Trung Quốc đã tác động khá tích cực vào Hoa Kỳ và nhiều nước trên thế giới. Văn hóa Trung Hoa quan niệm con số 7 là con số hội tụ, nó được lý giải rằng khi hai trái tim yêu thương đã thông qua một khế ước hôn nhân dưới sự chứng kiến của hai họ tộc thì cần phải có sự hòa hợp và nối kết với nhau. Bằng không sẽ dẫn đến tình trạng “đồng sàng dị mộng”, mỗi người mỗi khuynh hướng, mỗi cá tính, mỗi cách ứng xử.

Người ta còn tính toán đong đo để được càng nhiều con số 7 càng tốt. Chẳng hạn, họ sẽ tổ chức vào 7giờ 7phút sáng hoặc tối, mời 7 cặp cô dâu và chú rể phụ, làm 7 loại bánh với 7 sắc màu… Nói chung, càng nâng cao cấp số cộng của con số 7 thì niềm tin vào sự may mắn càng gia tăng.

Ước muốn một đời sống hôn nhân hạnh phúc trên nền tảng biểu tượng của con số 7 phản ánh thái độ và lòng quyết tâm duy trì cuộc hôn nhân như một khế ước xã hội lâu dài. Nhưng bản chất của sự lâu dài với hiểu biết của hai trái tim yêu thương đến mức độ nào thì đời sống sẽ kéo dài đến mức độ đó, nó sẽ tồn tại theo ý muốn chủ quan của con người. Nương vào quan niệm phong thủy của các con số chỉ có ý nghĩa biểu tượng cho sự ước muốn. Để biến ước muốn đó thành công thì phải cần đến rất nhiều yếu tố khác mà nhà Phật gọi là nhân quả.

Đa số các nhà tư tưởng không có cảm tình về hôn nhân có thể vì đã thất bại nhiều lần. Cho nên họ thường đưa ra các phát biểu rằng “Tình yêu là bình minh của hôn nhân” và “Hôn nhân là hoàng hôn của tình yêu”. Vì có tình yêu cho nên hai trái tim nỗ lực nối kết thông qua cuộc đính hôn, nhưng khi đã đính hôn thì tình yêu đó dần dần phai nhạt và mất đi các giá trị ban đầu.

Nhà thơ Hồ Dzếnh đã viết:

Cái buổi ban đầu lưu luyến ấy

Nghìn năm hồ dễ mấy ai quên

Nhưng sự thật thì người ta quên rất nhanh và không mấy người trong chúng ta nhớ những kỷ niệm đẹp với niềm hạnh phúc dồi dào khi còn ở trong mối tình đậm đà nhiều ấn tượng.

Con số 7 trong tôn giáo và khoa học

Thế giới duy trì con số 7 qua việc bầu chọn bảy kỳ quan thế giới. Người Mỹ gốc liên hệ số 7 đến phương hướng đông, tây, nam, bắc, trên, dưới và trung tâm gộp lại thành một cái gì đó hội tụ. Nền văn hóa của Hoa Kỳ dễ dàng tiếp nhận con số 7 phong thủy của nền văn hóa Trung Hoa và đã nâng tầm quan trọng của biểu tượng này làm cho người ta có cảm giác đó là biểu tượng của sự may mắn trong hôn nhân.

Do Thái giáo quan niệm thứ bảy là ngày Sabát, tức là ngày tinh thần và tâm linh. Thiên Chúa giáo khi phát sinh và làm mới nền văn hóa của Do Thái giáo lại cho ngày Chúa nhật, chủ nhật, mới là ngày quan trọng, vì theo vị thứ thì ngày đó đúng là ngày thứ bảy, ngày nghỉ ngơi của Chúa sau khi công trình tạo dựng được hoàn tất.

Ấn độ giáo lý giải cấu trúc nhân thể học của con người gồm bảy vùng. Mỗi vùng tương ứng với một luân sa, và mỗi luân sa là tâm điểm quan trọng nhất cho phần nhân điện về sự phát quang của con người. Nếu biết huấn luyện để bảy luân sa này được phát huy theo nghệ thuật có lợi thì sức khỏe, thể trí và tinh thần của con người sẽ ngày càng phát triển. Sử dụng các luân sa giúp con người sống lạc quan và hạnh phúc trong cuộc đời.

Đức Phật được mô tả trong kinh điển, khi được sinh ra dưới cội cây Vô ưu, ngài đi bảy bước, mỗi bước có một đóa sen nâng đỡ bàn chân, và ngài đã tuyên bố: “Trên trời dưới đất chỉ có ta là trên hết”. Chúng ta cần lý giải để hiểu điều này trên phương diện biểu tượng và triết lý hơn là hiểu theo nghĩa đen của nó.

Đạo Phật có mặt chịu ảnh hưởng một cách gián tiếp hay trực tiếp từ nền văn hóa của Ấn Độ giáo cũng đã sử dụng các dữ liệu văn hóa này để mô tả thuyết lý của nhà Phật. Nếu bạch thoại là loại ngôn ngữ nói huỵch toẹt mà người Trung Hoa sử dụng như là quốc ngữ để thống nhất về sự giao tiếp và quan hệ hành chính, thì nền văn hóa Ấn Độ mà đạo Phật sử dụng để mô tả trong kinh điển là cách mô tả mang tính biểu tượng. Người Ấn Độ không thích nói huỵch toẹt. Các tác phẩm văn học Ấn Độ đều ít nhiều sử dụng nghệ thuật tu từ làm cho tác học đó được xem như là một kiệt tác về văn chương. Triết lý của người Ấn Độ cũng vậy, nói đâu hiểu đó thì người ta sẽ không cảm tưởng có ấn tượng rằng đây là một đạo lý hấp dẫn. Vì vậy sự mô tả về cách thức ra đời của Thế Tôn cũng mang tính cách biểu tượng trong nền văn hóa Ấn Độ.

Nếu chỉ mô tả rằng “Thế Tôn có mặt trong cuộc đời này mang lại sự trang nghiêm, thanh tịnh, an lạc, hạnh phúc, và giải thoát cho con người” thì người Ấn Độ không thấy ấn tượng, vì nó không có giá trị nào để phải tư duy giải mã các biểu tượng chứa đựng trong sự mô tả đó. Cho nên thay vì vậy, người ta mô tả mỗi bước chân đi của đức Phật có một đóa sen nâng đỡ. Giác ngộ của ngài được nở trên đống sình của sinh tử trần ô. Đây là triết lý nhập thế rất sâu sắc giúp các hành giả Phật giáo không chán nản những cảnh bất hạnh vốn như là thực tại có mặt trong cuộc đời này. Trên thực tế, không có bất kỳ người nào ngay cả đức Phật vừa ra đời có thể đi được, huống hồ phát biểu tuyên ngôn. Chúng ta buộc phải hiểu cách mô tả đó chỉ mang tính biểu tượng. Câu tuyên ngôn trong tình huống này được hiểu như một sự quyết tâm cao độ dẫn đến lý tưởng không thuộc về việc thừa kế ngôi vua mà là sự lựa chọn con đường tâm linh để giải quyết nỗi khổ niềm đau cho toàn nhân loại và tất cả chúng sinh.

Các nhà bác học Hy Lạp cổ đã phát kiến ngẫu nhiên về sự kết hợp của con số 3 và con số 4 để tạo thành con số 7. Hình tam giác có ba cạnh nối kết với hình vuông bốn cạnh mang đến sự tuyệt hảo trọn vẹn đầy đủ của hình học không gian. Không có hình vuông và hình tam giác thì không có hình học không gian. Không gian n chiều là không gian của các hình tam giác và hình vuông.

Niềm tin và biểu tượng

Như nhiều nước trên thế giới, nền văn hóa Nhật Bản cũng cho rằng con số 7 tượng trưng cho hạnh phúc thế gian. Hạnh phúc đó được hiểu cao nhất là hôn nhân, mặc dù trên thực tế nhiều người không thấy tầm quan trọng của hôn nhân đối với đời sống của người tại gia. Người ta cho rằng gia tài, địa vị, chức tước mới là tiêu chí quan trọng nhất. Nhưng thực ra, cái mà người ta hướng về đầu tiên là hôn nhân. Và cũng vì tình yêu giới tính đó mà kinh điển nhà Phật xác quyết rằng nó trở thành như là điểm hội tụ và lực hút của sinh tử. Đó là quỹ đạo của tiến trình tái sinh làm cho các chủng loại có mặt chạy theo nghiệp và trở thành kẻ thừa tự những gì mình đã tạo thông qua lời nói, ý nghĩ và việc làm.

Ngày 07 tháng 07 năm 2007 cũng là lần thứ hai chính phủ Tony Blair, Anh Quốc, làm lễ tưởng niệm 52 người chết tại London do cuộc khủng bố diễn ra vào ngày này hai năm về trước. Nếu so sánh đối chiếu những điều bất hạnh diễn ra trên hành tinh này thì chúng ta sẽ thấy rằng con số 7 chỉ mang ý nghĩa biểu tượng hơn là mô tả một sự thật rằng bất cứ điều gì gắn liền với số 7 thì tượng trưng cho may mắn, thành tựu.

Nếu thống kê xã hội học về giao thông thì lưu lượng di chuyển trên đường phố vào ngày 07 tháng 07 có thể cao hơn những ngày thường, bởi vì người ta đổ xô ra đường với mục đích đi dự tiệc cưới hay những sự kiện quan trọng. Ở những quốc gia thuộc về thế giới thứ ba, các bữa tiệc hầu như đều gắn liền với rượu bia. Sau những buổi tiệc nhậu như thế, ẩu đả, đánh đập dẫn đến thương tích và cái chết là điều khó tránh khỏi.

Cho nên trong quan niệm số 7 mang lại hạnh phúc lớn nhất của hôn nhân, chúng ta vẫn thấy đồng hành với nó còn có sự bất hạnh. Từ góc độ Phật giáo, chúng ta nên sử dụng ý niệm biểu tượng này là nỗi niềm mong đợi của con người trong cuộc đời hơn là những sự thật. Bản chất của ước muốn theo nhà Phật là động năng đẩy chúng ta tới phía trước, lực đẩy đó trở thành một trong những yêu cầu đầu tiên mà nếu thiếu nó, chúng ta không thể tiến xa và thành công được. Trong 37 phẩm trợ đạo nó được gọi bằng khái niệm “Dục như ý túc”. Một ước muốn chân chính phù hợp với đời sống đạo đức kết hợp với các yếu tố tâm linh sẽ tạo ra sự thành công và làm cho người nỗ lực được hài lòng. Bản chất của ước muốn hoàn toàn không xấu nếu chúng ta biết sử dụng nó cho những mục tiêu tích cực.

Tu theo Phật giáo không phải là diệt dục mà là chuyển hóa các dục vọng tiêu cực có ích lợi cho bản thân nhưng lại hại cho cộng đồng. Còn những ước muốn và các nguyện vọng chân thành thì cần phải phát huy. Liên tưởng đến sự kiện Thế Tôn quyết tâm ngồi liên tục bốn mươi chín ngày đêm dưới cội Bồ Đề, lời phát nguyện của ngài là một ước muốn rất chân thành, “nếu không thành tựu được đạo quả giác ngộ giải thoát thì dù cho thịt nát xương tan vẫn không rời khỏi nơi này”. Lòng quyết tâm đó là điểm hội tụ của những nguyện ước chân thành và sử dụng có nghệ thuật các nguyện ước đó có thể đạt thành công.

Nguyện ước ngày đính hôn là làm thế nào để các hôn nhân được bền bỉ trong hạnh phúc, còn các quan niệm mê tín thông thường chỉ dựa trên con số mà không có sự chuẩn bị về đời sống tinh thần, tri thức và đạo đức, thì dù sử dụng bài toán cấp số cộng để có nhiều con số 7 vẫn không có giá trị gì, ngược lại nó có thể để lại nhiều sự tiếc nuối khi gặp thất bại về sau. Mong mỏi mà không thành tựu làm cho con người thất vọng dẫn đến khổ đau được gọi là “cầu bất đắc khổ”.

Nguyện ước về một đời sống hôn nhân bền vững thì ai cũng có nhưng không mấy ai thành công. Thống kê năm

2007, Hoa Kỳ có tỷ lệ ly dị lớn nhất thế giới, 49.5%, có nghĩa là trung bình hai cặp hôn nhân thì có một cặp ly dị. Khó có quốc gia nào có tỷ lệ lớn như thế. Có nhiều cách lý giải nguyên nhân dẫn đến ly dị. Một trong những lý giải đó cho rằng Hoa Kỳ là quốc gia tự do nhất, tự do cá nhân đã làm cho cái “tôi” của con người nhân rộng trở thành hàng rào kẽm gai bao bọc xung quanh. Phát triển tự do cá nhân theo tình huống vừa nêu thì cái “tôi” trở nên mang tính thách đố trong tất cả các mối quan hệ đặc biệt là quan hệ hôn nhân. Khi hai cái “tôi” của vợ và chồng đụng nhau sẽ có một cái bị vỡ và một cái bị thương tật. Nền văn hóa tự do tuyệt đối ở Hoa Kỳ là tiêu điểm hướng đến của phương Tây và các nước Châu Á, gây ra sự hụt hẫng rất lớn về phương diện hôn nhân và hạnh phúc gia đình. Vì tự do quá mức mà phần lớn những bà vợ khi không cảm thấy hài lòng về hôn nhân đã đương đơn ly dị.

Ấn Độ là quốc gia có tỷ lệ ly dị thấp nhất thế giới, 1,1%. Tuy nhiên hôn nhân kéo dài tuổi thọ chưa chắc phản ánh rằng gia đình đó được hạnh phúc. Thử làm một so sánh nhỏ các cặp hôn nhân ở Hoa Kỳ và Ấn Độ. Cứ vào ngày thứ bảy và chủ nhật hàng tuần, quốc gia Ấn Độ có khoảng vài trăm tờ nhật báo tiếng Anh và các ngôn ngữ địa phương, trong đó từ tám đến ba mươi trang quảng cáo về hôn nhân dưới sự sắp đặt của cha mẹ. Nội dung bài quảng cáo nêu rõ rất nhiều tiêu chuẩn tìm bạn đời. Chẳng hạn, phía đàng trai đăng thông tin tuổi tác, vóc dáng, nghề nghiệp, học vị,… của chú rể, và nêu nhu cầu tìm một cô dâu đáp ứng các tiêu chuẩn abcd. Hồ sơ thủ tục phải nộp gồm sơ yếu lý lịch, một bài tử vi đính kèm hai tấm hình chân dung và toàn thân. Bên đàng trai sẽ dựa vào những đương đơn mà chọn lựa. Sau đó, người ta thỉnh mời nhà tiên tri, nhà phong thủy, hoặc nhà tử vi lỗi lạc theo truyền thống này để định đoạt ngày tháng năm lễ cưới.

Người Ấn Độ xưa nay có khuynh hướng thích được cha mẹ đặt để. Từ khi Hồi Giáo và Anh Giáo có mặt tại Ấn Độ thì quan niệm hôn nhân này được thay đổi đôi chút nhưng vẫn không ảnh hưởng đến nền văn hóa của quốc gia. Dù thuộc về tôn giáo nào thì quan niệm văn hóa hôn nhân đó vẫn có sức đè mạnh rất lớn và con người luôn hoan hỉ hoặc chấp nhận. Nghĩa là họ cưới người mà cha mẹ họ muốn hơn là chính bản thân họ muốn. Ấy thế mà các cuộc hôn nhân đó vẫn rất thọ và hạnh phúc. Bởi vì các cặp vợ chồng luôn xem nhau như những người bạn.

Hôn nhân theo lời Phật dạy

Tình yêu trong quan hệ như những người bạn có gốc rễ từ văn hóa Phật giáo. Trong kinh, đức Phật giảng cho cô con dâu cư sĩ Cấp Cô Độc. Vì cô dâu này ngỗ nghịch, bất hiếu với cha mẹ chồng, nên nhân cơ hội đức Phật đi ngang qua nhà và nhận phẩm vật cúng dường, Cấp Cô Độc đã thỉnh cầu Thế Tôn dành chút thời gian giáo dục đứa con dâu của mình. Thế Tôn đã giảng một bài kinh ngắn rất ấn tượng nói về bảy loại vợ đối chiếu với bảy loại chồng. Trong đó, loại vợ thứ tư được xem là lý tưởng nhất, “người vợ là bạn đồng hành cùng người chồng”.

Cách đây 26 thế kỷ mà Thế Tôn đã dạy quan niệm hôn nhân như bạn đồng hành, điều đó cho thấy, yêu cầu về quyền lợi được giảm ở mức độ tối đa. Trong hôn nhân, ai quan niệm cần nhận được nhiều hơn cho thì hôn nhân đó đã bị đỗ vỡ ngay từ cách thức đặt vấn đề. Đây là yếu tố dẫn đến sự ly dị cao nhất của nền văn hóa phương Tây khi nền tảng kinh tế không còn đứng vững.

Xem chồng như người bạn đồng hành chúng ta không chỉ quý người đó như người bạn thân, người tâm giao hoặc tri kỉ mà còn thể hiện trách nhiệm bình đẳng giữa hai bên. Điều hoàn toàn phù hợp với học thuyết bình đẳng về giới tính mà cuộc cách mạng Pháp trở thành niềm hãnh diện nhất của dân tộc nước này. Nhờ đó, thế giới phương Tây nương theo, tạo ra sự bình đẳng giữa nữ giới so với nam giới. Đôi khi sự bình đẳng đó đi quá đà, thay vì hiểu vai trò vị trí xã hội của hai bên ngang nhau thì một số người nữ có khuynh hướng đánh đồng mình như nam giới. Họ bắt đầu dấn thân vào các loại thể thao mạnh, như đô vật, quyền anh,… làm mất đi phong cách dịu dàng, mềm mại vốn có. Quan điểm đánh đồng đã vượt ra khỏi yếu tố bình đẳng. Bình đẳng mục đích là sử dụng các dữ liệu giới tính vốn có để khẳng định sự đóng góp của mình trong xã hội và cộng đồng như là một thế mạnh, không có nghĩa đánh đồng những gì mình chưa có với thế giới đàn ông và cố gắng để người ta thấy rằng đàn ông vai u thịt bắp thì phụ nữ cũng tương đồng như vậy. Đánh đồng và bình đẳng khác biệt rất cơ bản, đôi lúc nhiều phụ nữ không thấy được điều này. Càng lao theo nhiều chừng nào càng đánh mất đi nét đặc trưng của nữ tính.

Khi vợ chồng xem nhau như người bạn đồng hành thì cả hai bên sẽ không đòi hỏi các quyền lợi cho bản thân, và người chồng sẽ không còn thói quen ứng xử với vợ như quan tòa, buộc vợ và con phải tuân theo.

Nguyên nhân rạn nứt

Một thống kê xã hội học cho biết tỷ lệ ly dị của những cặp vợ châu Á định cư trên đất nước Hoa Kỳ trong vòng 30 năm trở lại khá cao so với người bản địa. Lý do phần lớn người di dân từ Châu Á có quan niệm trọng nam khinh nữ.

Họ nhập cảng nguyên xi nền văn hóa châu Á sang Hoa Kỳ. Do đó khi sống với người vợ có kiến thức, bằng cấp, học vị, tiếp xúc với nền văn hóa phương Tây nói chung, nhiều ông chồng cảm thấy dị hợm vô cùng. Hôn nhân bắt đầu rạn nứt khi người chồng không còn được phục vụ và trở thành tâm điểm của gia đình.

Chúng ta có thể định nghĩa ly hôn là việc kết thúc khế ước hôn nhân giữa vợ và chồng khi cả hai còn đang sống, nó khác với tình trạng một trong hai người ra đi do tuổi thọ, tai nạn, bệnh tật. Sự chấm dứt khế ước hôn nhân như vậy làm cho tình yêu trong hai trái tim với nhu cầu cùng nhịp đập trở nên lạnh nhạt và không còn như thuở ban đầu nữa. Mỗi bước đi của mỗi người tạo thành sự song song chứ không còn đan xen và nối kết với nhau. Càng đi, càng dấn thân thì điểm kết thúc còn rất xa và ly tâm. Tình yêu là hướng về để hóa giải những khác biệt trở thành thống nhất thì tình yêu đó mới có thể lâu dài, bền bỉ với niềm an vui và hạnh phúc.

Câu hỏi đặt ra là tại sao một quốc gia tự do như Hoa Kỳ lại có tỷ lệ ly hôn cao nhất thế giới, trong khi Ấn Độ là quốc gia có hôn nhân định đoạt bởi cha mẹ lại có tỷ lệ ly hôn thấp nhất, mặc dù Ấn Độ giáo và Hồi giáo tại đây không hề cấm việc ly hôn như giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã?

Các nhà xã hội học Ấn Độ đưa ra lý giải rằng, phần lớn người phụ nữ Ấn Độ sống trong xó nhà chỉ làm hai công việc chăm sóc chồng và nuôi con. Những đứa trẻ đa phần được gần gũi mẹ hơn mười tiếng đồng hồ mỗi ngày nên đa số rất nên người. Họ phân công chức năng rõ rệt, người cha tạo dựng kinh tế còn người mẹ đóng vai trò giáo dục, đi ngược nền văn hóa Việt Nam ở một vài điểm, chẳng hạn, người cha đóng vai trò giáo dục nhiều hơn người mẹ và cũng đồng thời gánh vác luôn vai trò kinh tế. Gắn liền tình mẫu tử thì yếu tính tình cảm sẽ được phát triển một cách thăng bằng ở những đứa con dẫn đến sự bền bỉ và hạnh phúc trong gia đình.

Một lý do khác, vì kinh tế lệ thuộc vào người chồng cho nên dù phải sống trong hoàn cảnh bi đát và bất bình đẳng, nhiều người nữ đã chấp nhận như một thói quen không hề có sự lựa chọn nào khác.

Vấn đề thứ hai được đặt ra, tại sao đất nước Tích Lan vốn đạo Phật là quốc giáo, lại không hề chịu sự áp đặt hôn nhân như Ấn Độ mà vẫn có tỷ lệ ly hôn thấp thứ hai trên thế giới?

Do đó, tính đồng hành giữa vợ và chồng theo quan niệm loại vợ chồng thứ tư được nêu trong kinh Tăng Chi là dữ liệu chúng ta cần phải tham khảo.

Tổ ấm gia đình

Nho giáo có quan niệm ứng xử vợ chồng như khách quý. Cho nên các nhà tâm lý học phương Tây đã đề nghị một phương cách nhằm giảm bớt tỷ lệ ly dị vì lý do nhàm chán có thể xuất hiện, đó là vợ chồng nên ngủ riêng gường và phòng, để mỗi buổi sáng thức dậy gặp nhau sẽ tạo ra sự thu hút giới tính. Gần gũi sinh nhàm chán là yếu tố tâm lý khi bản năng của sự hưởng thụ các khoái lạc giác quan được bảo bọc bởi luật pháp dưới hình thức tự do cá nhân ở mức độ cao nhất. Nghiên cứu về phương diện khoái lạc giác quan với những vướng mắc và nhàm chán của nó, các nhà kinh tế phương Tây đã khai thác thị hiếu của con người. Cứ vài tháng họ đưa ra các sản phẩm với mẫu mã mới mặc dù nội dung không thay đổi bao nhiêu.

Trong quan hệ tình bạn, hiếm khi chúng ta cảm thấy nhàm chán vì chúng ta đến với nhau vì tình thân, hỗ trợ, giúp đỡ, và trong bàn tay giúp đỡ đó chúng ta cảm giác mình có giá trị đóng góp. Tính cách giúp đỡ đó là vô điều kiện, không tính toán như trong tình yêu.

Hãy tâm niệm “hơi đâu mà giận người dưng”. Tập buông xả nếu ai đó lỡ làm chúng ta phiền lòng. Thực tập như vậy, chúng ta sẽ buông được nỗi khổ niềm đau, sự chướng tai gai mắt được xả bỏ một cách dễ dàng. Tuy nhiên có một số người lại cho rằng “anh ta là chồng tôi, tại sao lại đối xử với tôi như thế?”, từ đó tự cho mình quyền nhớ dai, thù hận. Nếu đi theo khuynh hướng tâm lý ứng xử lợn cợn như thế, nó sẽ trở thành những cái gai gây đau thương, bất hạnh và kết thúc hôn nhân như là cơ hội để giải phóng sự bế tắc. Một nhà tư tưởng đã nói, “hôn nhân là hoàng hôn của tình yêu”, khi đã đạt được nó thì giá trị hạnh phúc không còn là chính nó ngay thời kỳ thịnh vượng của bình minh

Có rất nhiều lý do xã hội, gia đình, cá nhân dẫn đến sự đổ vỡ trong hôn nhân. Nếu chúng ta không quan tâm để ý thì dù có tổ chức đính hôn vào những ngày có hàng loạt con số 7 cũng không bảo đảm được hạnh phúc.

Đức Phật lý giải mọi thứ trong cuộc đời dù khổ đau hay hạnh phúc đều có các nguyên nhân gần hay xa, trực tiếp hay gián tiếp, mình hay người. Học thuyết Tứ Diệu Đế của ngài gồm hai giai trình nhân quả. Lớp nhân quả đầu tiên là nhân quả khổ đau của cuộc đời. Ngài đã dạy nhân loại bản lĩnh nhìn thẳng vào khúc mắc nội kết, những khó khăn nhất mà con người hay vấp phải, sau đó nâng nó lên tầm quan trọng nhất gọi là “khổ”.

Sau đó ngài yêu cầu chúng ta truy manh mối dây mơ rễ má để xem nguồn gốc của khổ là gì. Bản lĩnh của thái độ nhận thức như thế giúp chúng ta lạc quan đối mặt với khó khăn xuất hiện xung quanh.

Nhiều người khi tiếp xúc với chân lý về nỗi khổ niềm đau mà đức Phật khám phá trong lớp nhân quả thứ nhất đã vội vã cho rằng Thế Tôn chủ trương yếm thế, cường điệu quá nỗi khổ niềm đau, bôi đen bản chất hạnh phúc trong cuộc đòi. Trong khi đó chân lý đức Phật phát hiện trong Tứ Diệu Đế gồm có bốn bước: bản chất bất hạnh, gốc rễ của nó, hạnh phúc khi giải phóng bất hạnh và con đường đạt được.

Lớp nhân quả thứ hai là cách thức giải quyết vấn đề. Bám víu vào lớp thứ nhất mà bỏ qua những lớp còn lại là bỏ đi cơ hội tìm hạnh phúc. Phê bình chỉ trích đạo lý đó chẳng những phản ánh rằng chúng ta không hiểu được đạo lý đức Phật dạy mà còn trở thành nạn nhân của quan niệm sai lầm. Ứng dụng hai lớp nhân quả này vào trong các bế tắc của xã hội, nhất là bế tắc của hôn nhân, chúng ta sẽ tìm ra được giải pháp.

Ngoại tình và bất hạnh

Phản ứng phổ biến trước tình huống bị ngoại tình là thái độ “ông ăn chả, bà ăn nem”. Hôn nhân giới tính theo cái nhìn của Phật giáo là một sự ích kỉ có thể chấp nhận dưới góc độ của con người với hạnh phúc giác quan giới hạn cần phải có. Tính chất ích kỉ đó không cho phép con tim của một trong hai người đã kết hôn được quyền nghĩ tưởng đến người thứ ba ngoài vợ hay chồng mình. Trong tình yêu mà không có sự ích kỉ thì không thể nào bền bỉ vì nó thiếu yếu tố yêu thương nhau tha thiết. Vì vậy mà thái độ ghen tuông trở thành một yếu tính “bóng không rời hình” và nó gần gũi với tình yêu.

Phụ nữ có khuynh hướng sống về cảm xúc, cho nên khi cơn ghen xuất hiện làm cho tình cảm vợ chồng bị thách đố rất lớn. Nếu không biết thể hiện thì nỗi ghen đó trở thành sự đe dọa, khiến người thương cảm thấy ngột ngạt khó thở, và phát sinh nhu cầu tìm kiếm nơi khác bình yên hơn. Giải quyết bế tắc về tính hoa nguyệt, chúng ta phải tạo cơ hội cho người đó quay về và đừng khơi gợi hay cường điệu hóa nỗi đau vốn đã từng xảy ra trong quá khứ.

Vừa qua, một anh chồng ở Melbourn, Úc châu, khóc sướt mướt khi tâm sự với chúng tôi rằng hôn nhân của họ đã kết thúc sau mười năm chung sống. Lý do chính yếu do người vợ quá ghen. Sự ghen tuông làm cho người vợ không thể nào chấp nhận sơ xuất của anh chồng. Có lần khi mối quan hệ của vợ chồng anh đang lận đận, nỗi khổ niềm đau kéo dài khiến anh mỏi mệt. Ngay lúc đó, một người phụ nữ khác đã xuất hiện nâng đỡ và lấp đầy nỗi trống vắng trong anh. Anh đã rơi vào tình cảm và mối quan hệ bất chính với cô này. Sau đó anh biết đây là điều sai lầm. Anh ăn năn hối lỗi kể lại cho vợ mình. Nhưng ngờ đâu cô vợ không thể vượt qua cú sốc khi biết sự thật. Cô nhất quyết không tha thứ và bỏ qua. Cuối cùng, cuộc hôn nhân của họ bị đổ vỡ hoàn toàn. Anh chồng khóc lóc vì nghĩ rằng, nếu không chân thật báo cáo cho vợ thì có lẽ đâu dẫn đến kết thúc bế tắc như hiện nay.

Bản chất tình yêu cần sự hiểu biết rộng lượng để hai bên có thể tha thứ những lỗi lầm của nhau. Sai lầm là thuộc tính của người phàm. Vấn đề ở chỗ người đó có nhận diện sự sai lầm của chính mình và không tái phạm. Nếu chúng ta may mắn gặp được một người như thế thì hãy tạo cơ hội để người đó trở về, hơn là đẩy họ đi đến với một người khác mà vốn chúng ta không muốn.

Kinh điển của nhà Phật dạy, có hai hạng thánh trong cuộc đời. Hạng thứ nhất là chưa từng tạo tội lỗi, sơ xuất cũng như lỗi lầm. Hạng thứ hai là người biết đứng dậy sau khi vấp ngã, cảm nhận đó là một vết nhơ trong lương tâm, và không bao giờ tái phạm. Đức Phật nói, hạng thánh nhân thứ hai mới đáng tôn kính và tán thán hơn cả. Điều này khiến rất nhiều người ngạc nhiên, đặc biệt những người có thái độ tâm lý nghiêm túc, muốn chuyện gì ra chuyện đó, chỉ cần một lần sai phạm thì con người đó không còn được sử dụng trong tương lai. Người mang thái độ tâm lý như thế khó có thể chấp nhận đạo lý vừa nêu.

Đức Phật thấy rõ tâm lý con người có những lúc rất yếu. Trong lúc phần tâm lý bị sa sút tới mức độ yếu nhất thì bất kỳ cái gì khác đến sẽ trở thành cái nêm gài vào sự trống vắng dẫn dắt con người đến với những sai lầm. Vấn đề ở chỗ nhận ra sai lầm, không tái phạm mới là con người đáng quí, đáng trân trọng. Tất cả các sai lầm đều có khả năng chữa trị và làm mới. Nhận dạng và hiểu điều này thì tất cả những tình huống ngoại tình đều có cơ hội quay về, trở về với con người trước kia của chính mình. Quên đi quá khứ của nhau trở thành yếu tố vô cùng quan trọng.

Nhiều người có cái “tôi” rất lớn. Mỗi khi cái “tôi” bị xúc phạm, họ cảm thấy khổ đau cùng cực, và sẵn sàng vẫy tay chào với người mình thương, mặc dù người đó không có gì đáng trách. Cái “tôi” đó cho rằng mình phải là cuộc tình đầu tiên của vợ hay chồng. Sau thời gian vui vẻ với nhau, khi tình cờ biết hay được khơi gợi lại chuyện tình cũ của bạn đời, nhiều người đã nổi cơn ghen. Cái “tôi” bị tổn thương, dằn vặt dẫn đến kết quả chia tay nhau.

Cái “tôi” đòi hỏi sự trọn vẹn đó đã làm cho người ta không còn rộng lượng và tha thứ, dù trên thực tế, trước cuộc hôn nhân diễn ra như một khế ước xã hội thì ai cũng được quyền yêu người khác, thậm chí có thể yêu vài ba lần mới có thể chọn ra mẫu người lý tưởng nhất. Miễn không vi phạm tinh thần đạo đức của nhà Phật thì không có gì được coi là lỗi lầm. Yêu một người nào đó nhưng phải chia tay, đến với người khác bằng hôn nhân thật sự. Suốt thời gian duy trì hôn nhân trong khế ước xã hội, người này không hề ngoại tình dù chỉ trong tâm tưởng thì người đó không được xem là có lỗi lầm trong quá khứ. Tuy nhiên, với người xem yếu tố đầu tiên là quan trọng thì khi phát hiện người bạn đời đã từng có những mối tình trước đó, họ phản ứng gay gắt và không thể chấp nhận.

Tảo hôn và bất hạnh

Phần lớn các hôn nhân tảo hôn đến với nhau vì thiếu sự chuẩn bị tâm sinh lý. Cả vợ lẫn chồng chưa chín chắn trong tình cảm và nhận thức. Kết thúc của các cuộc hôn nhân này là tờ đơn li dị và những đứa con dại khờ, mô côi dù cha mẹ chúng vẫn còn đang sống.

Người Việt Nam có câu “già nhân ngãi, non vợ chồng”. Câu đối này cho thấy bản chất các mối quan hệ giới tính đòi hỏi tính cách đặc biệt, cái gì dễ dàng được thì sẽ dễ dàng mất. Cuộc tình giống như ngọn lửa, rơm dễ cháy nhưng cũng dễ tàn. Đến với nhau bằng quan hệ giới tính trong nền văn hóa phương Tây là điều được luật pháp bảo vệ nhưng nó lại trở thành một trong những đoạn tuyệt của hôn nhân. Quan hệ giới tính diễn ta trước khi khế ước xã hội được thiết lập sẽ không bền bỉ vì hai bên không cảm thấy còn cái gì đó quý trọng.

Nền văn hóa phương Tây ảnh hưởng rất nhiều từ phim ảnh và nghệ thuật quảng cáo kích thích khoái lạc giác quan một cách tinh vi và khéo léo, đã làm cho yếu tố gợi dục, gợi tình gia tăng. Do đó tuổi trẻ với phản ứng của hooc môn làm cho cơ thể phát triển sớm, khoái lạc về tình yêu tăng sớm hơn các quốc gia phát triển chậm về kinh tế.

Ấn Độ là quốc gia có tỷ lệ tảo hôn lớn nhất thế giới. Ngày nay, nữ 13 tuổi vẫn được quyền làm mẹ. Phụ nữ ở tuổi 50 đã trở thành bà nội hoặc bà ngoại. Khi sự chuẩn bị tâm sinh lý và kiến thức nuôi dưỡng con cái không được đảm bảo thì sẽ kéo theo nhiều hệ lụy. Rất may tỷ lệ ly dị ở nền văn hóa này vẫn không cao.

Khi áp lực của sự dị biệt giữa hai bên đã lên tới mức độ đỉnh điểm thì tuổi trẻ với các cuộc tảo hôn, có khuynh hướng dùng kim nhọn đâm vào bong bóng của hôn nhân để nó vỡ tung.

Một số quốc gia xem hôn nhân không phải trò đùa. Người ta thường khuyên các cặp vợ chồng trẻ phải giữ lời, giữ ý tứ với nhau, rộng lượng thông cảm và vượt qua những sơ xuất. Còn theo nền văn hóa đề cao sự tự do thì dù một xúc phạm nhỏ chẳng đáng cũng trở thành vấn nạn lớn dẫn đến ly dị.

Sự lệch lạc về vai trò giới tính

Phần lớn mâu thuẫn phát sinh khi người vợ thành công hơn chồng, không còn nhu cầu lệ thuộc vào chồng như trước đây. Do đó người vợ có suy nghĩ mình phải được ứng xử bình đẳng trong gia đình. Điều này làm cho người chồng bắt đầu cảm thấy bị va chạm.

Người nữ thấy được giới hạn của chồng hay nam giới nói chung thì cần phải khéo léo hơn. Dù thăng tiến trong xã hội nhưng phải giả vờ ứng xử thua chồng mà vẫn không để chồng rơi vào trạng thái cống cao ngã mạn trong cách ứng xử đối với chúng ta. Hai bên duy trì được mức độ tôn kính lẫn nhau thì độ bền và tuổi thọ trong hôn nhân mới có thể kéo dài.

Khuynh hướng những người vợ thường đòi hỏi chồng có học thức cao hơn, mạnh mẽ về mọi phương diện để có thể làm điểm tựa. Ngay trong cách thức xưng hô của Việt Nam đã cho thấy rất rõ điều đó, người vợ luôn là người em gái cho nên xưng hô là “em” và chồng là “anh”. Thấy rõ nhu cầu cần được bảo bọc ở mọi phương diện, nên mối quan hệ giữa tiếng “anh” và “em” trong vợ chồng đã làm cho cặp hôn nhân đó bền bỉ hơn. Nhưng khi người vợ có vai trò xã hội cao thì quan hệ này có thể bị mất. Nếu vợ không khéo ứng xử thì cái “tôi” của người chồng bị thách đố, người chồng sẽ cảm thấy vai trò của mình thương tổn và mình không là gì trong xã hội.

Sự thay đổi vai trò vị trí của người vợ gây khó khăn cho người chồng, nếu người chồng không thông cảm, hoan hỉ với sự thành công của vợ. Đặc biệt khi vai trò vị trí xã hội của chồng xuống dốc, ức chế tâm lý xảy ra hằng ngày, hằng giờ. Vì luôn muốn vợ con và người thân tôn trọng mình như ngày nào nên chỉ cần một lời nói lầm lỡ vô tình nào đó có thể tăng mức độ căng thẳng của người chồng. Anh ta sẽ nghĩ rằng mình không còn chức vị nên mới bị lấn lướt khinh thường, con cái không coi ra gì. Mặc dù trước đây cũng với những câu nói vô tình ấy, anh đã không để tâm. Trong tình huống như vậy, không ai khác hơn người vợ phải nâng đỡ chồng, giải thích và giúp chồng vượt qua khó khăn.

Ngoài ra còn hàng trăm ngàn lý do dẫn đến sự ly dị và hôn nhân không hạnh phúc.

Không chấp tướng chung và riêng

Tướng chung là đặc điểm chung của một chủng loại nào đó, chẳng hạn chủng loại động vật, chủng loại con người, chủng loại chư thiên, chủng loại ngạ quỷ v.v… Trong mỗi quốc gia có nhiều dân tộc, mỗi dân tộc có một chủng loại khác nhau. Chẳng hạn người Việt Nam da vàng, mũi tẹt, thấp bé… Người Châu Âu, Châu Mỹ da trắng, tóc vàng, mắt xanh… Tất cả các chủng loại đó được gọi là đặc điểm chung.

Khi nhãn thức con người tiếp xúc với thẩm mỹ, văn hóa y phục thời trang, các trang sức phẩm, ngoại hình, nhà cửa,… thì tướng chung sẽ dễ dàng thu hút. Nhiều người thích kết hôn với người khác tướng chung, cho nên khi gặp người ngoại quốc, họ có thiện cảm hơn. Đó là vì họ đặt nặng tướng chung.

Bám vào tướng chung thường không dẫn đến đổ vỡ hôn nhân nhiều như việc bám vào tướng riêng, vì tướng riêng thường để lại ấn tượng. Chẳng hạn, đôi mắt bồ câu, mũi dọc dừa, má nũng nịu đồng tiền, nước da hồng hào, tướng đi yểu điệu thướt tha v.v… trở thành một hấp lực giới tính đối với người nam là điều không thể phủ định.

Khác biệt giới tính đối với ngoại hình hai giới tạo ra sự hấp dẫn tính dục, và người ta đến với nhau bằng sự hấp dẫn này. Đó là lý do tại sao đàn ông không thương đàn ông, đàn bà không thương đàn bà, ngoại trừ người đó rơi vào tình trạng đồng tính luyến ái. Do đó sự hấp dẫn ngoại diện của con người trở thành những đặc điểm riêng mà chỉ có ở người này mà người khác thì không. Có người thương mái tóc đen, có người thương chân mày đậm, có người thương nụ cười, có người thương ánh mắt,…

Bám vào tướng riêng, con người sẽ so sánh đối chiếu với bạn đời của mình. Càng so sánh đối chiếu, sự ám ảnh của tướng riêng và tướng chung đó càng trở thành cơ hội đầu tiên của ngoại tình tâm tưởng. Về nhà mà tâm trí nhớ nhung cô bạn nói chuyện có duyên trong khi vợ mình đanh đá. Cảm giác tủi phận và tiếc nuối sẽ đánh mất hạnh phúc trong hiện tại. Cơ hội tiếp xúc với tướng riêng như thế làm cho người chồng trong tình huống này đi quá đà, và trở thành người lén lút.

Các hành giả Phật giáo cần thực tập quan sát, không chấp lấy tướng chung cũng không bám víu tướng riêng. Hãy quan niệm đơn giản rằng, đó chỉ là một người nam hay người nữ không có đặc điểm gì. Thái độ liên hệ đến tính từ đẹp xấu, hấp dẫn hay không hấp dẫn, trắng đen v.v… ở tướng trạng của người khác phái không được ý thức chúng ta diễn dịch, phân tích, so sánh, quy nạp, loại suy, thì lúc đó yếu tố của sự chấp trước về tướng riêng không được thiết lập. Nhờ thế, con người có thể giao du tiếp xúc với nhiều thành phần khác nhau trong xã hội, thậm chí với người đẹp hơn, giàu hơn, hấp dẫn hơn bạn đời của mình, nhưng mình vẫn không cần ghé mắt, để tai. Do hài lòng và hiểu biết bản chất của hạnh phúc không phải chỉ dựa trên giá trị thẩm mỹ như vừa nêu mà nó còn bao gồm cả tổng thể của tình cảm, tình yêu, tình thương, sự chăm sóc, tương trợ, cộng nghiệp, và biệt nghiệp khác nhau, mà các yếu tố kia không trở thành sự đe dọa ám ảnh chúng ta.

Thực tập Bát quan trai

Ngày bát quan trai thường được diễn ra vào những ngày thập trai. Theo nền văn hóa Ấn Độ, ngày thập trai là ngày ma hiện hồn về phá phách con người. Đức Phật đã sử dụng dữ liệu nền văn hóa đó để tạo cơ hội cho cả nam lẫn nữ, cả vợ lẫn chồng cùng tu tập vượt qua nỗi khủng hoảng sợ ma, và thấy rằng hồn ma đang có nhu cầu tâm linh cần sự hỗ trợ của những người còn sống thông qua các lễ thức cầu siêu. Trong ngày thọ bát quan trai, vợ lẫn chồng cần được thực tập chuyển hóa năng lực khát ái của tình dục như là nỗi ám ảnh của rất nhiều cuộc hôn nhân và tình yêu.

Nếu trong một tháng, cả vợ lẫn chồng thực tập Bát Quan Trai được một ngày thì ngày đó, chúng ta trở thành tu sĩ khống chế nỗi ám ảnh của hoạt động tính dục đang đe dọa. Một trong những nguyên nhân dẫn đến ly dị ở thế giới phương Tây là vì không thỏa mãn được nhu cầu này. Cho nên thực tập tiết hạnh và sự thanh tịnh trong một ngày sẽ làm cho nhu cầu hưởng thụ đó giảm đi và không còn là yêu cầu tiên quyết.

Những triệu phú, tỷ phú rất thành công trong nhiều phương diện khác nhau. Đối với họ, giá trị thẩm mỹ và giá trị tính dục là quan trọng nhất vì những thứ còn lại, họ đều không thiếu. Nếu có người tình gợi cảm và hưởng thụ cái đẹp đó thông qua sự thỏa mãn tính dục sẽ làm cho cái “tôi” của họ được thỏa mãn. Từ đó có khuynh hướng “giàu sang đổi vợ” khá phổ biến.

Thực tập Bát quan trai để thấy rằng, yếu tính của hạnh phúc liên hệ đến nghệ thuật thăng bằng cảm xúc. Cảm xúc con người thường đi theo hai khuynh hướng, một là hưng phấn dẫn đến chấp trước và tư hữu hóa; hai là ức chế dẫn đến chối bỏ, chán nản, thất vọng. Cả hai thái độ này đều là hai phản ứng khác nhau về cái “tôi”, khống chế, làm mất thăng bằng về phương diện cảm xúc. Thấy rõ điều này thì nhu cầu hưởng thụ tính dục sẽ giảm bớt, con người sẽ vượt qua được những nỗi ám ảnh.

Thực tập quán tình thân

Đức Phật dạy phương pháp này cho tất cả người tại gia và xuất gia để không có những ái cảm diễn ra đối với người khác phái, ngoài vợ hay chồng chính thức của mình. Gặp tất cả những người nam thì chúng ta phải quan niệm rằng họ đã từng là ông, bác, cha, chú, cậu, anh trai, em trai của mình ở một kiếp khác nào đó. Quan niệm về tình thân giúp chúng ta giữ được lương tâm con người và không rơi vào tình trạng loạn luân.

Người ta thường nghĩ quan niệm loạn luân chỉ có ở trong họ tộc huyết thống ngay đời hiện tại này mà không để ý đến loạn luân khác mang tính gián tiếp. Khi ta quán tất cả người nam và nữ đều là thân thuộc của mình, thì ngoài vợ hay chồng chính thức, chúng ta không còn ý niệm muốn thoả mãn tính dục, tình yêu với người khác, do đó hạn chế được tối đa thói quen ong bướm dẫn đến ngoại tình.

Giới trẻ có khuynh hướng đến với hôn nhân sớm, bởi vì nỗi khát ái về ngoại hình và sự hưởng thụ tính dục đã trở thành nỗi ám ảnh, nếu không thoả mãn được nó, nỗi khổ niềm đau xuất hiện. Cho nên đạo Phật dạy, hãy lấy sự nghiệp làm đầu, trí tuệ là sự nghiệp. “Duy Tuệ Thị Nghiệp” không chỉ là phương châm cho những người xuất gia mà còn cho cả người tại gia. Muốn có cuộc hôn nhân bền bỉ lâu dài, chúng ta phải lấy tuệ giác làm đầu.

Trong nhận thức của tình yêu, trái tim có phần nghiêng nặng đặc biệt, mọi sự phán đoán của chúng ta đa phần có nhiều cảm xúc, và do đó sự lựa chọn trong trường hợp này thường mang tính chất thiên vị về những gì mình thích và không thích. Cho nên việc chúng ta tuyển chọn người sai, người không phải là mẫu lý tưởng sẽ diễn ra ở mức độ cao và kết cuộc sau khi nhận diện rằng người mình thương yêu không thật sự là người mà mình mong đợi.

Lấy trí tuệ làm sự nghiệp, thì chúng ta lo cho bản thân ổn định sự nghiệp và kinh tế, mọi thứ chín chắn về nhận thức, cảm xúc và đời sống trong xã hội. Tới lúc đó việc đính hôn mới thật sự bền vững. Đây là phương châm đạo Phật dạy mà chúng ta không thể nào quên.

Truyền thông giữa vợ chồng

Kém truyền thông là một bế tắc mỗi khi có hiểu lầm va chạm cá tính và cái “tôi” diễn ra giữa hai bên. Phản ứng thông thường là rút cảm xúc, nhận thức và sự ứng xử của bản thân vào mai, biến mình thành con rùa để tìm cảm giác trấn an, nỗi khổ đau tạm thời được nguôi ngoai.

Văn hóa ở của phương Tây theo khuynh hướng thiết kế căn nhà gồm nhiều phòng riêng biệt. Vợ chồng con cái đều có phòng riêng. Khi mâu thuẫn trong các mối quan hệ gia đình xảy ra, mỗi người thường chọn giải pháp tự giam mình trong phòng riêng, tránh tiếp xúc với bất cứ ai ngoài ti-vi, radio, máy vi tính và các phương tiện khác. Họ thường chia sẻ tâm sự với những người bạn thân mà họ tin tưởng. Do vậy bế tắc trong truyền thông giữa các thành viên gia đình sẽ dâng lên. Nếu cả hai đều tự ái cao thì sự đổ vỡ là rất thường tình và tự nhiên.

Vừa rồi, chúng tôi có dịp trở lại thăm một gia đình Phật tử quen đã trên mười năm. Chúng tôi thấy khổ đau xuất hiện trong gia đình này, vợ chồng vừa mới ly dị chỉ vì một mâu thuẫn nhỏ trong việc dạy dỗ con cái. Người mẹ theo văn hóa phương Tây, chiều con quá mức, hễ nó muốn gì thì được đó. Trong khi người cha lại sống theo truyền thống Việt Nam, muốn con cái phải nối theo truyền thống của mình. Bất đồng quan điểm khiến vợ chồng tự ái dồn dập, mỗi khi nói chuyện thường lớn tiếng cãi vã nhau. Cuối cùng không ai chịu nói với ai và vi

0 notes

Tuổi tác và hôn nhân dưới góc độ Phật pháp

Tuổi tác và hôn nhân ở nước ta
Đây là trường hợp hầu như đại đa số gia đình không ít thì nhiều đều vướng phải. Vấn đề hạnh phúc hôn nhân không thể hoàn toàn đặt định trên vấn đề kiến thức, lại càng không phải do tuổi tác hay kinh tế vật chất tạo nên. Nếu đặt định tin tưởng như thế, chưa đủ yếu tố để xây dựng hạnh phúc gia đình. Học thức cao, kinh tế đầy đủ, cũng chỉ là một trong nhiều yếu tố khác. Mặc dù hai yếu tố nầy rất cần thiết trong đời sống lứa đôi. Ngoài hai yếu tố nầy ra, nó còn đòi hỏi nhiều yếu tố khác nữa. Theo Phật giáo, là cần phải hội đủ nhân duyên. Nói đến nhân duyên, tất nhiên, phải có chánh nhân và trợ nhân hay trợ duyên. Thí dụ hiểu và thương là chánh nhân. Ngoài ra, những yếu tố khác có thể nói đều là trợ duyên.

            Ở đây, thiết nghĩ, chúng tôi cũng cần nói rõ minh định lập trường của Phật giáo trước sau như một. Phật giáo, ngoài việc chủ xướng đề cao lý nhân quả ra, Phật giáo không bao giờ chủ trương người Phật tử tin vào những điều gì khác, có tánh cách tà tín, nhứt là vấn đề bói toán, xem tuổi tác và ngày giờ tốt xấu để phán xét, đoán định vận mạng nơi quá khứ, hiện tại, vị lai. Phật giáo chủ trương và luôn khuyến khích người Phật tử tin sâu lý nhân quả nghiệp báo, với mục đích là để chúng ta tìm ra nguyên nhân hình thành ác nghiệp, để từ đó tìm mọi phương cách khắc phục, hoán cải, những nhân xấu để trở thành nhân tốt. Đồng thời, cũng chuyển hóa những ác nghiệp trở thành thiện nghiệp. Có thế, thì mới cải thiện được đời sống của chúng ta ngày càng thăng hoa tốt đẹp hơn .
            Do đó, theo Phật giáo, những chuyện xảy ra cơm không lành canh không ngọt, mất hòa khí trong gia đình, không phải là do tuổi tác không hợp, mà là do tập khí chủng nghiệp của mỗi người huân tập ở những môi trường sống khác nhau, mà người ta thường nói là tánh tình không hợp. Khi nói tánh tình không hợp, ta phải xét tìm nguyên nhân lý do tại sao? Nếu bảo rằng, do tuổi tác, thì lẽ ra từ đầu chí cuối phải là xung khắc luôn luôn, chớ tại sao khi hợp khi khắc? Khi vui thì hợp, khi buồn thì khắc. Khi vừa ý thì hợp, khi trái ý thì khắc. Như vậy, sự xung khắc bất hòa nầy do đâu? Tại sao mỗi người không chịu tìm hiểu lại chính mình mà đổ thừa cho tuổi tác?

Từ nhỏ đến lớn, trước khi thành vợ chồng, mỗi người có một đời sống hoàn cảnh khác nhau. Không ai hoàn toàn giống ai. Chỉ hợp nhau ở một khía cạnh nào đó, như trình độ học vấn, sở thích, cá tánh… Đây mới chỉ là hợp nhau trong bước đầu. Hợp nhau trong cái thuở ban đầu lưu luyến ấy. Bước đầu bao giờ cũng rất là đẹp. Vì hai bên đều giữ kín những tật tánh xấu của mình. Không ai dám để lộ ra cái chân tướng của mình cho đối phương biết rõ. Nhưng khi thành vợ chồng chung sống với nhau một thời gian, bấy giờ nó mới hiện ra rất nhiều thứ không hợp. Những thứ không hợp nầy, nó ẩn khuất tiềm tàng sâu kín, mà cả hai khó tìm thấy nhau. Nếu biết rõ nhau ngay từ lúc đầu, thì nguyện ước hôn nhân khó thành. Cho nên, cả hai đều phải che giấu.=>chuẩn
O0o…Yêu nhau là một quá trình tìm hiểu lâu dài và không vội vàng….o0o
Nhưng khi sống chung, thì biệt nghiệp cá tánh của mỗi người đều hiện rõ. Từ đó, cả hai mới nhận thấy có nhiều điểm bất đồng. Và mọi việc không còn như ý muốn ban đầu. Và cũng từ đó chiến tranh lạnh bắt đầu có cơ bộc phát. Vậy nguyên nhân bất hòa gây ra chiến tranh nầy do đâu? Vì cả hai không chịu tìm hiểu, bởi tìm hiểu thì mỗi người sẽ để lộ chân tướng xấu của mình ra, rồi vì bản ngã, vì tự ái, nên bây giờ chỉ còn có cách đổ thừa cho tuổi tác, cho ông tơ bà nguyệt se duyên không đúng, hay là do duyên nghiệp trớ trêu v.v… Nghĩa là phải tìm đủ mọi cách để chạy tội đổ thừa trách nhiệm cho kỳ được, chớ không ai chịu tìm hiểu lại lỗi lầm của chính mình. Phật giáo, với cái nhìn của tuệ giác, không thể chấp nhận cho việc tránh né đổ thừa nầy.

Thử hỏi trên đời có ai làm vừa ý mình hết không? Chính mình có đôi khi còn không vừa ý với chính mình, thì có ai mà làm vừa ý mình. Như vậy, rõ ràng không phải do tuổi tác xung khắc mà là do nhiều yếu tố khác. Yếu tố nào gây ra sự bất hòa? Đó là điều mà người Phật tử cần phải truy nguyên tận nguồn gốc của sự bất hòa đó. Trên đời nầy, không có gì là không có nguyên nhân. Thường chúng ta hay mắc phải chứng bệnh chủ quan. Mà bệnh chủ quan là con đẻ của bệnh chấp ngã. Vì chấp ngã, nên cái gì mình cũng đúng hết. Mọi lỗi lầm đều do người kia gây ra, mà chúng ta không chịu tìm hiểu căn nguyên vấn đề của chính mình.
Đạo Phật dạy rằng, sự sống hình thành bởi nghiệp và chính nghiệp trở lại chi phối đời sống của ta. Như người có tánh nóng nảy, đụng tới là lửa sân hận nổi lên đốt cháy người khác. Tánh nóng nảy, đó là một tập khí do huân tập mà có, tự tánh của nó là không. Vì vậy, cho nên khi gặp nghịch duyên bất như ý là nổi sân lên, đến khi vừa ý, thì lại êm dịu.
0 notes

Dạy con kiểu ông chủ tập đoàn Sony

Masaru Ibuka, doanh nhân nổi tiếng người Nhật, cha đẻ của tập đoàn
Sony là người rất tâm huyết với sự nghiệp giáo dục con trẻ, đặc biệt
là giáo dục tài năng sớm. Từ những điều mà ông chia sẻ trong cuốn “Sau
ba tuổi thì đã muộn”, ta có thể rút ra nhiều bài học bổ ích.
Facebook Twitter 0 bình chọn Viết bình luận Lưu bài này Masaru Ibuka, một người cha, một nhà giáo dục và một doanh nhân nổi tiếng
Theo Masaru Ibuka, để con trẻ có thể phát triển tốt, cha mẹ không nhất
thiết phải sắm cho chúng các loại đồ chơi hiện đại đắt tiền, cũng
chẳng cần nghiền ngẫm các phương pháp giáo dục cao siêu hay tham gia
một khóa học đặc biệt nào cả. Thứ duy nhất mà cha mẹ cần làm đó là hãy
dành nhiều thời gian hơn để yêu thương con. Và tình yêu thương đó có
thể “diễn giải” thành 5 bước cơ bản dưới đây:

Việc tiếp xúc, gần gụi với thân thể cha mẹ không chỉ giúp ươm “mầm
lương tri”, lòng trắc ẩn, sự nhạy cảm trong bé mà còn tác động rất
tích cực lên trí thông minh của “thiên thần nhỏ”. Cho bé ngủ chung
giường và thường xuyên ôm ấp bé thực ra không hề làm hư bé như nhiều
người vẫn nghĩ. Sự trìu mến dành cho trẻ nhỏ chính là nền tảng tốt
nhất để các bé phát triển lành mạnh. 2. Tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của con. Điều đó không
có nghĩa là phải trang bị cho ngôi nhà của bé thật tiện nghi và đầy ắp
đồ chơi xịn. Khi quá tiện nghi, bé sẽ ít động não hơn, và khi có quá
nhiều đồ chơi bé sẽ bị phân tâm, khó tập trung. Ví như chỉ có một chú
gấu bông thì bé sẽ “nghiên cứu” nó thật kỹ và cố nghĩ ra thật nhiều
trò để chơi cùng nó. Nhưng nếu có cả một bầy thú nhồi bông, búp bê,
siêu nhân… vây quanh thì bé sẽ không dừng lại lâu với món nào để “tư
duy” kỹ lưỡng cả. Ngoài ra, để trẻ có thể phát triển lối tư duy khác
biệt, tích cực, bạn chớ vội mua ngaycho con những thứ mà con thích. Cứ
để con thiếu thốn một chút thì trí tưởng tượng của con càng có cơ hội
bay bổng. Đôi giày sành điệu của mẹ có thể biến thành một cặp… chiến
xa. Còn thùng đồ sửa xe của bố ư? Có thể được bé hình dung như một tòa
lâu đài đầy bí hiểm.
3. Trao cho con chì màu, đất nặn càng sớm càng tốt! Tất cả những gì mà
trẻ tự tạo ra bằng đôi tay của chính mình – vẽ, nặn, tô, hay thậm chí
là xé tan, đập nát thứ gì đấy… thì cũng giúp trí thông minh và bản
năng sáng tạo của trẻ phát triển. Và phụ huynh đừng nên liên tục phê
bình, chỉnh đốn con kiểu như: “Cầm bút cao cao lên nào!”, “Không được
dùng tay trái”, “Sao mặt trời lại màu tím, màu đỏ chứ”…. Vì như vậy ta
chỉ cản trở sự sáng tạo của trẻ mà thôi. Nhân tiện xin nói thêm là
việc sử dụng tay trái hay tay phải đều có tác dụng như nhau trong việc
tăng cường khả năng của bộ não ở trẻ nhỏ.

4. Thường xuyên đọc sách cho con nghe và dạy con học thuộc thơ. Bộ nhớ
của các bé lên ba có thể lưu giữ cả trăm bài thơ ngăn ngắn và càng
được rèn luyện nhiều thì bộ nhớ ấy càng… mênh mông hơn. Ban đầu bé có
thể ngắc ngứ mãi không đọc trôi một câu thơ, nhưng dần dần bé có thể
làu làu cả một tập thơ vài chục rồi vài trăm bài. Ngoài tác dụng luyện
trí nhớ, việc đọc thơ còn đem cho bé niềm hứng khởi đối với thơ ca,
bồi dưỡng cho tâm hồn bé thêm phong phú.
Tất cả những gì mà trẻ tự tạo ra bằng đôi tay của chính mình – vẽ,
nặn, tô, hay thậm chí là xé tan, đập nát… thì cũng giúp trí thông minh
và bản năng sáng tạo của trẻ phát triển.
5. Khi bé đã biết đi, hãy dắt bé đi dạo thay vì đặt bé trong xe nôi.
Lý do là đi bộ trên đôi chân của chính mình sẽ kích thích trẻ tư duy
tốt hơn. Chẳng phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà bác học, nhà văn nhiều khi
bị “bí” ý tưởng hay “tụt” cảm hứng đã đứng lên đi bộ loanh quanh và ý
tưởng bỗng dưng lại xuất hiện, cảm hứng đột nhiên quay về.

Lớn lên cùng đại gia đình Theo Masaru Ibuka, lý tưởng nhất đối với trẻ con là được lớn lên trong
một đại gia đình với nhiều thế hệ. Sự hiện của ông bà, cô dì, chú bác,
anh chị em tạo ra một môi trường xã hội tuyệt vời cho sự phát triển
của trẻ nhỏ. Bản thân Masaru đã từng dành rất nhiều thời gian, tâm sức
cho đứa con trai bị bệnh bại não của mình. Ông cho rằng trong gia
đình, người cha chỉ làm trụ cột kinh tế thôi chưa đủ mà còn phải là
nhà giáo dục thực sự đối với các con và ông kêu gọi các ông bố hãy đi
tiên phong trong sự nghiệp giáo dục con cái.

Phương pháp của “ông Sony” từng bị phản đối vì quan điểm dùng hình
phạt thể chất đối với trẻ dưới ba tuổi nhưng Masaru Ibuka lý giải rằng
trẻ cần được đưa vào nề nếp từ lúc chưa đầy một tuổi, vì đến ba tuổi
thì ở trẻ đã hình thành lòng tự trọng và việc quở mắng hay dùng roi
vọt lúc ấy sẽ rất nan giải, thậm chí là vô nghĩa. Tuy nhiên, Masaru
Ibuka cũng nhấn mạnh rằng không bao giờ nên dùng những hình phạt khiến
trẻ cảm thấy bị sỉ nhục và nảy sinh lòng thù hận. Và nói chung, đối
với con trẻ thì khen ngợi, khích lệ luôn cần được ưu tiên, còn trừng
phạt thì hãy giảm thiểu. Đặc biệt là đừng bao giờ trách phạt, đánh
mắng trẻ trước mặt người khác. Bạo hành và sỉ nhục không bao giờ có
thể là bạn đồng hành với sự phát triển của trí tuệ. Chỉ có sự ham mê
hiểu biết và niềm vui khám phá mới có thể giúp trẻ vươn đến những chân
trời mới của tri thức. Trong cuốn “Sau 3 tuổi thì đã muộn” (“Kindergarten is Too Late”, xuất
bản năm 1971), Masaru Ibuka cho rằng thời kỳ lĩnh hội kiến thức quan
trọng nhất ở con người diễn ra trong khoảng thời gian từ lúc chào đời
cho đến khi 3 tuổi. Từ đó, ông đã đề xuất những phương thức để tận
dụng thời kỳ này. Lời tựa của cuốn “Kindergarten is Too Late” được
viết bởi Glenn Doman, người sáng lập ra Viện nghiên cứu Tiềm năng Con
người - một tổ chức hướng dẫn các bậc phụ huynh về các phương pháp
phát triển trí lực cho con em mình. Ibuka và Doman đều nhất trí rằng
năm đầu tiên trong cuộc đời là thời kỳ có vai trò trọng đại đối với
việc giáo dục con người.

Phan Minh Ngọc (Tổng hợp từ LiveInternet, Wild-mistress, Wikipedia)
0 notes

7 thói quen khiến các sếp lớn bại trận

Những thói quen dưới đây có thể bắt gặp ở các sếp lớn đã phải nếm trải thất bại, đó cũng là những dấu hiệu được cảnh báo trước đối với những thương hiệu bất khả chiến bại như Apple, Google và Amazone.
8 năm về trước, giáo sư Sydney Finkelstein, giáo sư ngành quản lý của trường kinh doanh Tuck thuộc Đại học Dartmouth đã cho xuất bản cuốn sách có tên Why Smart Executives Fail (tạm dịch “Nguyên nhân các nhà lãnh đạo tài ba thất bại”).

Trong cuốn sách này, tác giả chia sẻ nhiều nghiên cứu do chính ông thực hiện về những gì hơn 50 công ty từng rất thành công như Enron, Tyco, WorldCom, Rubbermaid, and Schwinn đã làm khiến họ nếm trải thất bại. Một điểm thú vị mà Finkelstein khám phá ra đó là các Giám đốc điều hành của những công ty này đều có 7 thói quen chung. Ông gọi đó là 7 thói quen dẫn đến thất bại. Những thói quen này có thể bắt gặp ở các sếp lớn đã phải nếm trải thất bại như Research In Motion (RIMM) – công ty điện tử sở hữu thương hiệu Blackberry nổi tiếng. Tuy nhiên, đó cũng là những dấu hiệu được cảnh báo trước đối với những thương hiệu bất khả chiến bại như tập đoàn Apple (AAPL), Google (GOOG) và Amazone.com (AMZN).

Thói quen 1: Các ông chủ thường xem bản thân và công ty của họ như một thế lực chi phối môi trường xung quanhĐây có thể được xem là thói quen xảo quyệt nhất bởi nó tỏ ra cực kỳ tham vọng. Liệu một công ty có nên bằng mọi cách chi phối môi trường kinh doanh, định hình thị trường trong tương lai và vạch sẵn tốc độ tăng trưởng? Câu trả lời là nên, song nó chỉ là một cái bẫy. Không như những vị lãnh đạo thành danh, những người nếm mùi thất bại không bao giờ đặt câu hỏi về địa vị thống trị của công ty, do đó không thể nhận thức được cơ may đứng trước những thay đổi lớn lao. Họ quá đề cao khả năng kiểm soát tình huống và đánh giá thấp vai trò của cơ hội và tình thế.

Các giám đốc kinh doanh mắc phải cái bẫy này thường nuôi ảo tưởng về sự xuất chúng của bản thân. Họ xem bản thân như là “đạo diễn” trong chính công ty của mình vậy. Đối với họ, nhân viên có trách nhiệm thực hiện những viễn cảnh mà họ vạch ra cho công ty. Giám đốc điều hành tập đoàn Samsung Kun-Hee Lee đã rất thành công với những sản phẩm điện tử của hãng, đến mức vị giám đốc này cứ ngỡ rằng mình có thể lặp lại thành công đó với ngành công nghiệp ô tô. 5 tỉ đô la đã được Kun-Hee Lee đầu tư vào thị trường vốn đã bão hòa. Vì sao ư? Vì chẳng có tiền lệ nào cả. Ông Lee chỉ đơn thuần đam mê xe hơi và mơ ước một ngày nào đó thành công với công việc kinh doanh này. Thói quen 2: Những người lãnh đạo thất bại thường đồng hóa bản thân với công ty tới mức không tồn tại một ranh giới rõ rãng nào giữa những lợi ích của cá nhân và công ty

Cũng giống như thói quen thứ nhất, điều này nghe có vẻ vô thưởng vô phạt, thậm chí còn có ảnh hưởng tốt. Người lãnh đạo cần nguyện làm hết mình vì công ty, lợi ích của họ cũng phải phù hợp với lợi ích của toàn công ty. Nhưng xem xét sự việc kỹ càng hơn, bạn sẽ nhận thấy rằng những con người này đồng hóa bản thân với công ty một cách quá mức. Thay vì xem công ty như một công việc kinh doanh cần được phát triển lâu dài, họ lại xem đó như một phương tiện làm gia tăng sức ảnh hưởng của bản thân. Bằng cách đó, tâm lý về một đế chế tư nhân hùng mạnh bắt đầu hình thành. Những Giám đốc kinh doanh có cách nhìn như vậy thường dùng công ty của mình để hiện thực hóa những tham vọng cá nhân. Nhiều vị giám đốc đã nhanh chóng trượt dốc bằng cách dùng ngân quỹ công ty vì lợi ích riêng. Những người đã có thời gian dài làm việc với thành tích kinh doanh ấn tượng thường cho rằng họ đã giúp công ty có được nhiều hợp đồng làm ăn, vậy nên những khoản chi cho bản thân họ nếu như quá phung phí thì cũng chỉ là quá nhỏ nhặt với những gì họ đã cống hiến. Cách lập luận này có lẽ là một trong những nhân tố định hình nên cách cư xử của cựu chủ tịch tập đoàn Tyco, ông Dennis Kozlowski. Niềm kiêu hãnh về tập đoàn cũng như sự tiêu pha phung phí của Dennis Kozlowski dường như tồn tại để bổ trợ cho nhau. Đó là lý do vì sao ông này làm ra vẻ chân thành khi có những bài phát biểu về đạo đức nghề nghiệp trong khi chính bản thân mình lại đang dùng công quỹ sai mục đích. Giữ trọng trách một Giám đốc điều hành của một tập đoàn lớn thời nay là cách ngắn nhất để trở thành bá chủ trong đế chế riêng của họ, và điều giả định đó quả là nguy hiểm.

Thói quen 3: Những sếp lớn bại trận thường cho rằng họ đã nghe hết các câu trả lờiHình ảnh về năng lực thực sự của người lãnh đạo mà chúng ta sẽ còn mãi khâm phục: là người cực kỳ năng động, đưa ra hàng loạt quyết định chỉ trong một phút, xử lý hàng loạt sự cố cùng một lúc và chỉ mất vài giây để đánh giá tình hình mà người khác phải mất nhiều ngày mới giải quyết được. Vậy nhưng hình ảnh này lại chỉ là một sự lừa gạt. Những người lãnh đạo bao giờ cũng linh hoạt và quyết đoán thường giải quyết công việc một cách nhanh chóng tới mức họ chẳng có cơ hội để nhận ra kết quả. Tệ hơn, họ không sẵn sãng tiếp thu cái mới, bởi cho rằng họ đã nghe hết các câu trả lời cho mọi vấn đề.

Giám đốc điều hành của tập đoàn Rubbermaid ông Wolfgang Schmitt từng ưa thích việc chứng tỏ khả năng của bản thân trong việc phân loại những vấn đề cần giải quyết chỉ trong chớp mắt. Một người đồng nghiệp của Wolfgang Schmitt nhớ lại “Wolf thông thạo mọi chuyện trên trời dưới biển.” Trong một cuộc thảo luận khi mọi người đang bàn về một vụ mua lại công ty cực kỳ phức tạp mà chúng tôi thực hiện ở châu Âu, Wolf không cần nghe đến những quan điểm trái chiều của mọi người mà chỉ nói “Đó là điều chúng ta sắp phải làm.” Người lãnh đạo luôn cho rằng đã đủ các câu trả lời thường bỏ qua những ý kiến của người khác. Khi một người như thế nắm quyền điều hành công ty, có lẽ bạn nên hy vọng là câu trả lời xuất hiện trong đầu sếp không phải là câu trả lời đúng. Nhưng ở Rubbermaid, mọi chuyện không như vậy. Từ chỗ là tập đoàn được ngưỡng mộ nhất theo thống kê của tạp chí Fortune năm 1993 đã bị mua lại bởi tập đoàn Newell chỉ một vài năm sau đó. Thói quen 4: Những người thất bại thường không nương tay loại bỏ những ai không tuân lệnh

Các Giám đốc kinh doanh nào cho rằng công việc của họ là truyền đức tin về tầm nhìn kinh doanh thì cũng thường hay nghĩ họ có bổn phận làm cho những người khác phải mua các sản phẩm mình làm ra. Những ai không đồng tình với nguyên tắc này chính là đang ngầm phá hoại tầm nhìn kinh doanh đó. Những nhà quản lý không quyết đoán có một sự lựa chọn khác: hoặc là thực hiện kế hoạch, hoặc là để mặc nó. Thói quen này quả là vô cớ và tiêu cực. Giám đốc kinh doanh không cần phải khiến mọi người nhất nhất tán thành tầm nhìn của họ mới có thể thực hiện thành công. Trên thực tế, chỉ bằng việc gạt đi những ý kiến bất đồng và trái chiều, những CEO này đã cô lập bản thân mình khỏi cơ hội quý giá được tiếp cận và sửa chữa những vấn đề nảy sinh trong công việc.

Những ai muốn hạn chế sự bất đồng chỉ khiến sự việc thêm phức tạp. Một khi điều này xảy ra, toàn bộ công ty sẽ như mất đi sức sống vốn có của nó. Tại công ty sản xuất đồ chơi Mattel, Jill Barad đã cho sa thải một vài vị phó giám đốc nếu bà biết được họ đang che dấu những nghi ngờ về cách bà điều hành công ty. Tại tập đoàn Rubbermaid, Schmitt tạo nên một không khí làm việc khá căng thẳng, nơi mà người ta không cần đến quyết định sa thải. Khi các giám đốc mới nhận ra họ không còn nhận được sự hỗ trợ từ phía lãnh đạo, nhiều người trong số họ rời bỏ công việc nhanh như khi họ nhậm chức. Rốt cục, những CEO này khiến đội ngũ nhân viên phải răm rắp tuân lệnh, nếu ai đó dám làm điều ngược lại đồng nghĩa với đối mặt cùng thảm họa. Điều không may là không một ai từng trải còn ở lại công ty để nhắc họ điều đó. Thói quen 5: Những kẻ thất bại là người phát ngôn có năng lực, thường quá ấn tượng với hình ảnh của công ty

Bạn hẳn đã biết những vị giám đốc điều hành này, những người rất nổi tiếng trong mắt công chúng. Thế nhưng vấn đề là giữa những các phương tiện thông tin đại chúng và sự tán tụng của nhiều người, những nỗ lực quản lý của họ trở nên hời hợt và kém hiệu quả. Thay vì hoàn thành nhiệm vụ, họ thường chỉ “làm màu” cho những công việc đó. Đằng sau sự hào nhoáng của giới truyền thông là một sự thực đơn giản không ngờ về đời sống của những vị giám đốc này: nếu không hết mình trong các mối quan hệ công chúng, họ sẽ chẳng có được sự quan tâm chu đáo của báo giới. Khi những con người này đã quá ám ảnh với hình ảnh họ tạo dựng nên, họ khó có thể dành nhiều thời gian cho công việc điều hành. Cựu chủ tịch tập đoàn Tyco – Dennis Kozlowski đôi khi xen vào những việc cực kỳ nhỏ nhặt, trong khi phần lớn công việc điều hành hàng ngày trong công ty lại chẳng có ai giám sát.

Khi các giám đốc điều hành xem hình ảnh công ty như là ưu tiên hãng đầu thì đó chính là lúc họ mạo hiểm quảng bá hình ảnh đó bằng chính các báo cáo tài chính. Thay vì xem những giấy tờ này như một công cụ quản lý, họ đã biến chúng thành cách thức để tạo lập các mối quan hệ. Cựu giám đốc của tập đoàn năng lượng Enron ông Jeffrey Skilling hay cựu chủ tịch tập đoàn Tyco Kozlowski là những điển hình tiêu biểu khi sử dụng phương thức PR này. Thói quen 6: Thất bại vì đánh giá thấp những trở ngại

Một trong những điểm cám dỗ của việc trở thành giám đốc điều hành là cơ hội tạo lập nên một triển vọng kinh doanh. Tuy nhiên, khi họ đã trở nên quá say mê với triển vọng đó thì cũng là lúc họ không còn để ý đến hay đánh giá thấp những khó khăn tại thời điểm này nữa. Và khi những trở ngại họ đã từng bàng quan trở nên rắc rối hơn họ tưởn thì những vị giám đốc này lại có thói quen sa lầy vào vực thẳm. Ví dụ như khi cơ nghiệp của Webvan bị thua lỗ nặng, Giám đốc điều hành George Shaheen vẫn đang mải mê mở rộng công việc kinh doanh mà không hay biết sự việc. Vì sao trong tình huống này, CEO phải đánh giá lại những hành động của bản thân, hay chí ít là dừng lại để chiêm nghiệm xem liệu những chính sách họ thực hiện có hiệu quả? Một số người cảm thấy họ cần phải đúng trong mọi quyết sách, bởi nếu thừa nhận sự sai sót của bản thân, vị trí công việc của họ có thể bị lung lay. Một khi giám đốc điều hành thừa nhận họ đã có những quyết định sai lầm thì tất yếu sẽ có những lời ra tiếng vào rằng họ không xứng đáng với vị trí hiện có. Những kỳ vọng không thực tế này thực sự làm khó cho CEO khi rút chân ra khỏi những quyết sách trước đó, vì thế mà họ càng phải nỗ lực gấp bội. Điều đó lý giải vì sao lãnh đạo của tập đoàn Iridium và Motorola (MMI) vẫn tiếp tục đầu tư hàng tỷ đô la để phóng các vệ tinh dù cho về sau điện thoại thông thường vẫn là một lựa chọn thông minh hơn so với điện thoại vệ tinh toàn cầu.

Thói quen 7: Những người nếm mùi thất bại lệ thuộc quá nhiều vào những gì làm nên thành công của họ trong quá khứNhiều CEO trên bước đường đi đến thất bại đã đẩy nhanh sự suy yếu của công ty bằng cách quay lại với những cách thức làm việc được xem là đáng tin cậy. Với mong muốn tận dụng những sức mạnh của bản thân, họ duy trì một mô hình kinh doanh “tĩnh”. Họ tiếp tục cung ứng sản phẩm cho một thị trường không còn tồn tại, hoặc không tính toán đến sự đổi mới trong các lĩnh vực ngoài những mảng mà công ty đã từng thành công trước đó. Thay vì cân nhắc những lựa chọn để tìm ra một giải pháp phù hợp với tình hình mới, họ lại xem chính sự nghiệp mình gây dựng nên như là một ví dụ điển hình và làm theo những gì đã từng mang lại thành công trong quá khứ. Ví dụ như khi Jill Barad thực hiện việc quảng bá phần mềm giáo dục tại công ty Mattel, bà đã sử dụng cách thức quảng bá đã từng rất hữu hiệu khi sản phẩm búp bê Barbie tung ra thị trường, bất chấp thực tế phầm mềm này không được phân phối hay bán ra theo cách công ty này bán sản phẩm búp bê Barbie.

Thông thường, những CEO nào mắc phải thói quen này đều có những “thời điểm quyết định” trong sự nghiệp của mình, có thể là một quyết định tối quan tọng hay những lựa chọn về quyết sách làm nên thành công rực rõ. Đó thường là thứ khiến người ta biết đến họ nhiều nhất, giúp họ thăng tiến trong những công việc về sau. Vấn đề là sau khi đã trải qua thời điểm quyết định đó, nếu trở thành CEO của một công ty lớn, họ thường để những thời điểm quan trọng trong sự nghiệp của mình quyết định vận mệnh của công ty mà không cần biết chúng có thể phi thực tế ra sao. Điều cốt yếu là nếu bạn có một trong những nét tính cách trên, thì ngay bây giờ chính là thời điểm để bạn loại bỏ chúng. Nếu không phải bạn mà sếp hay giám đốc của bạn đang mắc phải những thói quen có thể khiến họ thất bại như trên, tốt nhất là bạn nên tìm kiếm một công việc mới đi thôi.

Phong LinhTheo TTVN/Forbes

http://biz.cafef.vn/20120118020339546CA57/7-thoi-quen-khien-cac-sep-lon-bai-tran.chn
0 notes